ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam nằm ở phần Đông bán đảo Ðông Dương, trong vùng nhiệt đới bắc bán cầu với tổng diện tích tự nhiên trên đất liền là 329.241 km2, trong đó 75% diện tích là đồi núi. Vùng biển có bờ biển dài khoảng 3.260 km với hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu km2. Sự đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan và khí hậu là cơ sở rất thuận lợi tạo nên tính đa dạng sinh học vô cùng phong phú và đặc sắc của Việt Nam, thể hiện ở đa dạng các hệ sinh thái, đa dạng loài và đa dạng nguồn gen. Đa dạng sinh học của Việt Nam đóng vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển bền vững đất nước, đặc biệt đối với sự phát triển của các ngành kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, y tế, công nghiệp và du lịch, đưa lại lợi ích và sinh kế cho hàng triệu người dân.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội, đa dạng sinh học ở Việt Nam cũng đã và đang bị tác động làm cho suy giảm nhanh ở cả ba cấp độ hệ sinh thái, loài và nguồn gen Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (VQG PNKB) được thành lập ngày 12 tháng 12 năm 2001 theo Quyết định số 189/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hệ sinh thái rừng núi đá vôi ở Phong Nha-Kẻ Bàng chứa đựng mức độ đa dạng sinh học cao về các loài động vật và thực vật. Tuy nhiên, hiện nay các loài động thực vật tại VQG PNKB đang chịu sự tác động bất lợi từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Vì vậy, việc quản lý và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học của VQG là rất cần thiết.
Để có cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn các giá trị đặc trưng về đa dạng sinh học của vùng núi đá vôi Phong Nha – Kẻ Bàng xuất phát từ yêu cầu thực tiễn ở trên tôi thực hiện đề “Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng tỉnh Quảng Bình” nhằm đ ề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học của VQG PNKB. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về đa dạng sinh học và Vƣờn quốc gia 1. Khái niệm về đa dạng sinh học Đa dạng sinh học (Biodiversity) là thuật ngữ thể hiện tính đa dạng của các thể sống, loài và quần thể, tính biến động di truyền giữa chúng và tất cả sự tập hợp phức tạp của chúng thành các quần xã và hệ sinh thái.
Đa dạng sinh học được thể hiện ở ba cấp độ: đa dạng di truyền, đa dạng về loài và đa dạng về hệ sinh thái. Cho đến nay đã có hơn 25 định nghĩa nữa cho thuật ngữ "đa dạng sinh học" này. Trong đó, định nghĩa của tổ chức FAO (Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc) cho rằng: "đa dạng sinh học là tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Đa dạng hệ sinh thái Theo các nhà khoa học, có thể chia các hệ sinh thái của Việt Nam thành 3 nhóm chính bao gồm: hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái đất ngập nước nội địa và hệ sinh thái biển và ven bờ.
Các hệ sinh thái ở Việt Nam phần lớn là những hệ sinh thái nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài như tác động của thiên nhiên, đặc biệt là tác động của con người. Trên phần lãnh thổ vùng lục địa ở Việt Nam, có thể phân biệt các kiểu hệ sinh thái trên cạn đặc trưng như: rừng, đồng cỏ, savan, đất khô hạn, đô thị, nông nghiệp, núi đá vôi. Trong số đó, rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên với tính chất rừng nhiệt đới với nhiều kiểu thảm thực vật rừng khác nhau, có sự đa dạng về thành phần loài cao nhất. Đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã quý, hiếm có giá trị kinh tế và khoa học.
Ngoài ra còn có các hệ sinh thái tự nhiên khác có thành phần loài nghèo hơn, như hệ sinh thái nông nghiệp và hệ sinh thái khu đô thị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Hệ sinh thái đất ngập nước nội địa rất đa dạng, bao gồm các thủy vực nước đứng như hồ tự nhiên, hồ chứa, ao, đầm, ruộng lúa nước, các thủy vực nước chảy như suối, sông, kênh rạch. Trong đó, có một số kiểu có tính đa dạng sinh học cao như suối vùng núi, đồi, đầm lầy than bùn với rất nhiều các loài động vật mới cho khoa học đa được phát hiện ở đây. Các hệ sinh thái sông, hồ ngầm trong hang động Castơ chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Theo thống kê, Việt Nam có 20 kiểu hệ sinh thái biển điển hình thuộc 9 vùng phân bố tự nhiên với đặc trưng đa dạng sinh học biển khác nhau. Trong đó, ba vùng biển, bao gồm: Móng Cái-Đồ Sơn, Hải Vân-Đại Lãnh và Đại Lãnh-Vũng Tàu có tính đa dạng sinh học cao hơn các vùng còn lại. Các hệ sinh thái ven bờ như rừng ngập mặn, đầm phá, vụng biển, vũng biển, rạn san hô, thảm cỏ biển và vùng biển quanh các đảo ven bờ, đảo xa bờ là những nơi có tính đa dạng sinh học cao đồng thời rất nhạy cảm với biến đổi môi trường. Trong đó, rạn san hô và thảm cỏ biển được xem là các hệ sinh thái đặc trưng quan trọng nhất do chúng có tính đa dạng sinh học và có giá trị bảo tồn cao nhất.
Hai hệ sinh thái này có quan hệ mật thiết và tương hỗ lẫn nhau, tạo ra những chuỗi dinh dưỡng đan xen quan trọng ở vùng biển và ven bờ của Việt Nam. Nếu hệ sinh thái này bị hủy hoại sẽ tác động tiêu cực đến các hệ sinh thái khác. Nếu mất cả hai loại hệ sinh thái này, các vùng biển ven bờ của Việt Nam có nguy cơ sẽ trở thành “thuỷ mạc”. Từ những điểm trên có thể thấy, trên khắp vùng lãnh thổ của Việt Nam từ trên cạn đến nước nội địa ra tới vùng biển, các kiểu hệ sinh thái tự nhiên rất đa dạng.
Mỗi kiểu hệ sinh thái lại có quần xã sinh vật đặc trưng riêng. Tất cả tạo nên sự phong phú, đa dạng khu hệ sinh vật của Việt Nam. Ða dạng loài Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng sinh học cao về các loài động thực vật và vi sinh vật. Qua các tài liệu điều tra cơ bản, đến năm 2011 đa có các con số thống kê như sau: Về thực vật, tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam đa ghi nhận 13.766 loài thực vật.393 loài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch.
Sau đó, trong công trình Danh lục các loài thực vật Việt Nam, chưa kể các nhóm vi tảo ở nước, các nhà thực vật đa thống kê có tới 16.428 loài thực vật. Về vi sinh vật, đa thống kê và xác định được 7.800 loài gây bệnh cho thực vật, 1.500 loài gây bệnh cho người và gia súc và hơn 700 loài vi sinh vật có lợi. Về sinh vật nước ngọt, đã thống kê và xác định được 1.438 loài vi tảo thuộc 259 chi và 9 ngành; trên 800 loài động vật không xương sống; 1.028 loài cá nước ngọt. Trong đó, đáng chú ý là riêng họ cá chép (Cyprinidae) có 79 loài thuộc 32 giống, 1 phân họ được coi là đặc hữu ở Việt Nam với 1 giống, 40 loài và phân loài mới cho khoa học.
Khái niệm về Vườn Quốc gia Theo Luật Đa dạng sinh học (2008) của Việt Nam, các khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm các loại: i) Vườn quốc gia; ii) Khu dự trữ thiên nhiên; iii) Khu bảo tồn loài - sinh cảnh; iiii) Khu bảo vệ cảnh quan; Vƣờn quốc gia là một khu vực đất hay biển được bảo tồn bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại. Vườn quốc gia được bảo vệ nghiêm ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp bởi con người. Vườn quốc gia thường được thành lập ở những khu vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh thái phong phú, có nhiều loài động-thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt trước sự khai thác của con người. Theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ , Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái và được xác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp,đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn.
Hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam và các tiêu chí Năm 1962, khu rừng đặc dụng đầu tiêu được thành lập ở miền Bắc Việt Nam là Rừng cấm Cúc Phương (nay là Vườn quốc gia Cúc Phương). Năm 1965, chính quyền Nam Việt Nam đã quyết định thành lập một số khu bảo vệ, trong đó có Côn Đảo và Bạch Mã. Sau ngày giải phóng miền Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 41/TTg ngày 24/01/1977, thành lập thêm 10 khu rừng cấm với tổng diện tích là 44. Đến năm 1986, hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam tương đối hoàn chỉnh, với 3 phân hạng: Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên và Rừng văn hóa - lịch sử - môi trường.
Năm 2003, chiến lược quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 192/2003/QĐ-TTg. Theo hệ thống này thì Rừng văn hóa - lịch sử - môi trường được đổi thành Rừng bảo vệ cảnh quan.1: Hệ thống rừng đặc dụng được Chính phủ phê duyệt tới năm 2003 TT Hạng Số lƣợng Diện tích (ha) I Vƣờn Quốc gia 27* 957.330 II Khu Bảo tồn thiên nhiên 60* 1.058 IIa Khu dự trữ thiên nhiên 49 1.