Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về côn trùng cánh cứng trên thế giới Có khoảng 400.000 loài cánh cứng đã được xác định trên thế giới, chiếm khoảng 40% tổng số loài côn trùng với 167 họ, trên 450 phân họ (Lawrence (1995)). Số liệu đó cũng nằm trong giới hạn theo ước tính của Nielsen & Mound (1999) với khoảng 300.000 loài cánh cứng đã được mô tả. (2001), đã ghi nhận thành phần loài họ Bọ chân chạy (Carabidae) ở New Zealand gồm có 5 phân họ thuộc 20 liên giống, 78 giống và 424 loài so với số loài trên thế giới là 25.000 loài thuộc 6 phân họ và 85 giống, đến năm 2013, các tác giả đã bổ sung và xác định có 800 loài CC thuộc họ Bọ chân chạy (Larochelle & Larivière (2013).
(2000) đã nghiên cứu về phân bố thành phần loài cánh cứng ở Sabah, Malaysia trong các kiểu sinh cảnh khác nhau : rừng nguyên sinh; rừng trồng tre nứa với những loài cây tiên phong như Macaranga spp., rừng keo và rừng cây Cọ dầu. Nghiên cứu của tác giả cho thấy, sự biến động về các đặc điểm của khu hệ thực vật như loài cây, mật độ, độ che phủ của tán cây và độ che phủ mặt đất, độ pH và tính chất vật lý của đất có ảnh hưởng đến thành phần và sự đa dạng loài cánh cứng. Lassau et al. (2005) đã nghiên cứu phân bố loài cánh cứng theo các mức độ đa dạng của môi trường sống.
Môi trường sống đa dạng được xác định đầy đủ bởi 6 chỉ tiêu: độ che phủ của tán cây; độ che phủ tán cây bụi; lượng lá cỏ rơi rụng; độ ẩm đất; lượng cành cây, gỗ, mảnh vụn. Kết quả sử dụng phương pháp phân tích tương quan cho thấy họ Carabidae có quan hệ chặt chẽ với dạng sinh cảnh có nhiều thảm mục, cành cây, các sản phẩm rơi rụng nhiều. Trong khi đó phân họ Oxytelinae và họ Leiodidae chủ yếu phân 5 bố ở sinh cảnh có nhiều lá cỏ rơi rụng. Sự phong phú của họ Scarabaeidae, phân họ Scaphidiinae phụ thuộc vào độ che phủ của tán cây.
Họ Anobiidae ưa sống ở nơi có nhiều cành cây khô mục. Các họ Corticariidae, Curculionidae và Staphylinidae quan hệ với sinh cảnh có cả 6 điều kiện nêu trên. Kết quả điều tra của Andrés & Francisco (2008) tại Vườn Quốc gia Fragas del Eume, Tây Ban Nha đã xác định có khoảng 1.000 loài CC, thuộc 53 họ. Những họ có trên 10 loài gồm: Carabidae có 103 loài, Curculionidae 92 loài, Chrysomelidae 89 loài, Staphylinidae 84 loài, Scarabaeidae 30 loài, Cerambycidae 26 loài, Dytiscidae 22 loài, Nitidulidae 19 loài, Elateridae 17 loài, Hydrophilidae 15 loài và Coccinellidae 12 loài.
Những họ có số loài ít là Byturidae, Anthribidae, Anobiidae và Alleculidae. Theo Bouchard et al.000 loài cánh cứng thuộc 165 họ đã được mô tả thì 62% số loài thuộc 6 họ có số lượng loài lớn nhất trên 20.000 loài gồm: họ Vòi voi (Curculionidae) có 60.000 loài, họ Cánh cộc (Staphilinidae) có 47.744 loài, họ Ánh kim (Chrysomelidae) có 36.350 loài, họ Bọ chân chạy (Carabidae) có 30.000 loài, họ Bọ hung (Scarabaeidae) có 27.800 loài và họ Xén tóc (Cerambycidae) có 20. Khoảng 127 họ có từ 1 đến 999 loài được mô tả và có 29 họ từ 1.000 loài được mô tả. (2014) trên thế giới, họ Kẹp kìm (Lucanidae) có khoảng 118 giống với 1.750 loài ; họ Giả cặp kìm (Passalidae) có 65 giống với 325 loài.
Gullan et al. Phạm vi phân bố của cánh cứng rất rộng do chúng có khả năng thích ứng với môi trường khắc nghiệt. Kết quả nghiên cứu của Jong et al. (2015) cho thấy trong tổng số 2.409 cá thể thuộc 35 loài, 19 giống, 8 phân họ, có các loài Coptolabrus jankowskii jankowskii, Eucarabus sternbergi sternbergi, Paxosticus audax chiếm ưu thế 6 ở vùng lõi, trong khi các loài Pheropsophus jessoensis, Synuchus nitidus, Synuchuscycloderus, và Chlaenius naeviger chiếm ưu thế ở vùng đệm của Vườn quốc gia và khu vực tiếp giáp với đường giao thông hoặc đồng cỏ.
Khí hậu là nhân tố có ảnh hưởng đáng kể đến tính đa dạng và phân bố của cánh cứng. Hoạt động của cánh cứng thường cao nhất vào mùa mưa, mùa hè và thấp nhất vào mùa đông. Nghiên cứu của Erwin T. (1980) cho thấy, sự đa dạng và phong phú của các loài cánh cứng vào tháng 7 (thời điểm này lượng mưa nhỏ) là lớn nhất, tiếp đến là thời điểm tháng 10 khi lượng mưa cao hơn và sự đa dạng, phong phú của các loài cánh cứng thấp nhất vào mùa khô.
Manoj et al. (2016) nghiên cứu về phân bố và đa dạng của cánh cứng ở độ cao khác nhau tại khu bảo tồn động vật hoang dã Binsar, Almora, Uttarakhand, Ấn Độ cho thấy, phân bố loài cánh cứng có sự thay đổi theo độ cao khác nhau, độ cao càng lớn thì số loài càng giảm. Tuy nhiên sự chênh lệch số loài theo độ cao là không đáng kể, ở độ cao 1.191 m có 16 loài và độ cao tăng lên 2.409 m thì số loài giảm còn 14 loài. Ở các độ cao khác nhau số loài chiếm ưu thế thuộc họ Scarabaeidae, tiếp đến là họ Chrysomelidae và thấp nhất là họ Tenebrionidae Những nghiên cứu trên cho thấy thành phần loài cánh cứng trên thế giới rất đa dạng, phong phú trong đó số loài chủ yếu tập trung ở các họ Bọ hung, họ Bọ rùa, họ Chân chạy, họ Ánh kim, họ Vòi voi và họ Xén tóc.
Các nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng phân bố các taxon của cánh cứng phụ thuộc vào đặc điểm của sinh cảnh, độ cao, chế độ khí hậu, thời tiết. Xác định được những đặc điểm này có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác bảo tồn và phát triển cánh cứng. Theo Joyded et al. (2013) họ Bọ rùa (Coccinellidae) ở hệ sinh thái rừng và hệ sinh thái nông nghiệp vùng Đông Bắc Ấn Độ có 24 loài thuộc 17 giống.
Tác giả đã xác định tương quan về độ phong phú và phân hạng 24 loài thành 21 hạng, trong đó loài Bọ rùa Micraspis discolor, Cheilomenes sexmaculatus 7 và Coccinella transeversalis có số lượng cá thể nhiều nhất, nên lần lượt được xếp ở hạng 1, 2 và 3. Loài Illeis sp. và Rodolia sp. ít nhất và đều xếp ở hạng thứ 21.
Sự chênh lệch các chỉ số đa dạng Shannon, Simpson và Pielou ở hệ sinh thái rừng và hệ sinh thái nông nghiệp không đáng kể. Ở hệ sinh thái rừng có các chỉ số đa dạng tương ứng là 2,33; 0,13 và 0,78; ở hệ sinh thái nông nghiệp tương ứng là 2,30; 0,14 và 0,80. Alison (2010), đã xác định trong mối quan hệ tác động qua lại giữa côn trùng với thực vật, giữa thực vật với đất, thì đa dạng thực vật tạo nên sự đa dạng côn trùng và ngược lại côn trùng góp phần hình thành tính đa dạng của hệ thực vật. Shahabuddin (2010), chỉ ra rằng tính đa dạng họ Bọ hung ở Vườn quốc gia Lore Lindu, Indonesia cao nhất ở khu vực rừng tự nhiên và thấp nhất ở hệ sinh thái nông nghiệp.
Phần lớn Bọ hung có ở hệ sinh thái rừng đều xuất hiện ở hệ sinh thái nông lâm kết hợp. Thành phần Bọ hung thu thập được ở hệ sinh thái rừng và hệ sinh thái nông lâm kết hợp có quan hệ chặt chẽ phản ánh tính tương đồng cao của thảm thực vật, tiểu khí hậu. Tuy nhiên, số loài thu được ở hai kiểu sinh cảnh này có sự sai khác với hệ sinh thái nông nghiệp. Điều đó cho thấy môi trường sống có ảnh hưởng quan trọng, xác định tính đa dạng loài và cấu trúc quần xã Bọ hung.
Vanesca et al. (2013), cũng đã xác định tính đa dạng sinh học họ Bọ hung ở rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, hệ thống nông lâm kết hợp, đất rừng tái sinh tự nhiên làm giàu bằng phương thức trồng cây ăn quả, hệ thống canh tác nông nghiệp trên đất rừng sau nương rẫy và đồng cỏ thuộc rừng mưa nhiệt đới Amazon. Kết quả thu thập được 59 loài, 17 giống, đồng thời nhận thấy hệ sinh thái rừng có tổng số loài và loài ưu thế cao nhất. Những loài có trong rừng thứ sinh và trảng cỏ đều có mặt ở tất cả các hệ sinh thái khác.
Hệ sinh thái nông nghiệp có số loài thấp hơn so với hệ sinh thái rừng, nhưng một số loài có số lượng cá thể nhiều hơn. Các loài cánh cứng kích thước lớn có độ giàu và chỉ số phong phú giảm dần từ rừng nguyên sinh đến trảng cỏ, trong khi đó, loài 8 có kích thước nhỏ không có biến động lớn ở hệ sinh thái rừng thứ sinh và hệ sinh thái nông nghiệp. Tuy nhiên những loài kích thước nhỏ lại có sự gia tăng về chỉ số phong phú theo thứ tự hệ thống nông lâm kết hợp, hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái rừng thứ sinh và trảng cỏ. Chandra & Gupta (2012), đã đánh giá tính đa dạng họ Bọ hung ở khu bảo tồn hoang dã Singhori, Ấn Độ.
Trong số 26 loài thuộc 12 giống và 2 phân họ, chiếm ưu thế là phân họ Scarabaeinae có 24 loài, phân họ Aphodiinae chỉ có 2 loài. Tác giả đánh giá tính đa dạng alpha thông qua các chỉ số Shannon- Wiener, chỉ số Simpson và chỉ số Fisher, tính đa dạng beta thông qua chỉ số Sorensen. Fauziah et al. (2012), đã xác định tính đa dạng cánh cứng ở Malaysia tại Lata Bujang A, Lata Bujang B và Kongsi China.
Kết quả thu được 113 loài, 34 họ. Trong đó, Lata Bujang A là nơi có độ phong phú cao nhất, chỉ số Margalef là 11,031; chỉ số Simpson 0,963; chỉ số Shannon là 3,523. Ở Kongsi China có độ đa dạng thấp nhất, các chỉ số tương ứng là 8,296; 0,891 và 2,902. Số lượng loài nhiều nhất thuộc họ Chrysomelidae là 13 loài; tiếp đến là họ Curculionidae 11 loài và họ Staphylinidae 10 loài.
Họ Chrysomelidae có chỉ số phong phú Margalef cao nhất (4,235), họ Carabidae (3,038). Họ Chrysomelidae có chỉ số Simpson cao nhất (0,971), tiếp theo họ Elateridae (0,944), họ Scarabaeidae là 0,933; chỉ số Shannon- Wiener của họ Chrysomelidae là 2,507; họ Staphylinidae là 1,925 và họ Elateridae là 1,889. Meng et al. (2013) đã chỉ ra rằng ở rừng tự nhiên phía Nam Trung Quốc, cánh cứng là sinh vật chỉ thị, đặc trưng cho tính ĐDSH, có quan hệ tỉ lệ thuận với số loài thực vật.
Với 181 loài thực vật, tác giả đã xác định được 220 loài cánh cứng. Trong số các dạng sinh cảnh khác nhau thì rừng tự nhiên có số lượng loài và số lượng cá thể cánh cứng trong loài nhiều nhất. Để xác định vai trò chỉ thị sinh cảnh có thể sử dụng chỉ số IndiVal của Dufrene & Legendre (1997) và Mc Geoch et al. Loài với đặc trưng và mức độ chính xác cao trong sinh cảnh sẽ có giá trị chỉ thị cao.
Bhargava et al.