Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những khái niệm cơ bản về đa dạng sinh học. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về môi trường và phát triển bền vững ở Rio De Janero Brazin năm 1992 đã thông qua Công ước quốc tế về ĐDSH và các nguyên tắc về rừng với sự tham gia của 156 quốc gia trên thế giới và liên minh Châu Âu. Rõ ràng, ĐDSH không những chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học, mà còn có ý nghĩa sống còn tới sự tồn tại và phát triển của loài người.
Mặt khác, các cam kết trên cũng chứng tỏ mối quan hệ mật thiết của rừng đối với ĐDSH, vì rừng là cái nôi từ lâu đời, là nơi cùng sinh tồn của không biết bao nhiêu loài, trong đó chắc chắn còn có nhiều loài mà con người chưa hề biết đến.(Cục bảo tồn đa dạng sinh học, 2010 ) Đa dạng sinh học là sự phong phú của các sinh vật sống, của tất cả các nguồn gồm có hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh vật biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, tập hợp các hệ sinh thái mà các hệ sinh vật này chỉ là một phần; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong một loài, sự đa dạng giữa các loài và đa dạng hệ sinh thái. Nói cách khác, ĐDSH là sự đa dạng trong và giữa các hệ sinh thái, loài (Phạm Bình Quyền, Nguyễn Nghĩa Thìn 2002). Do vậy nó là thuộc tính của sự sống, đối lập với “ nguồn tài nguyên sinh học “ Vốn là một phần rõ ràng của hệ sinh thái. Đa dạng sinh học được diễn giải một cách thuận tiện theo 3 cấp độ nhìn nhận như sau : - Đa dạng hệ sinh thái: Hệ sinh thái là một phức thể năng động của các quần xã động thực vật, các vi sinh vật và môi trường vô cơ xung quanh có tác động qua lại như một đơn vị chức năng.
Động thực vật và các vi sinh vật là những thành phần sống của một hệ sinh thái. Chúng tác động qua lại lẫn nhau bởi các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 mắt xích của chuỗi thức ăn và tác động qua lại với ánh sáng, nước, không khí, chất khoáng và chất dinh dưỡng. Những tác động này vừa là cơ sở cho sự hoạt động của một hệ sinh thái vừa cùng với hoạt động của các hệ sinh thái khác có thể cung cấp các “dịch vụ” cho sự sống trên trái đất. Trong số những “dịch vụ” đó có duy trì sự cân bằng của khí quyển, tái tạo các chất dinh dưỡng, điều hoà khí hậu, duy trì các trình thuỷ văn và nâng cao độ phì nhiêu của đất.
- Đa dạng loài: Là sự đa dạng và tần xuất của các loài khác nhau. Quần thể loài là một tập hợp các sinh vật có thể giao phối để sinh ra thế hệ hữu thụ. Các cá thể trong một loài thường không tự do giao phối với những cá thể của loài khác. Điều này được qui định bởi nhiều yếu tố, bao gồm sự khác biệt về gen, các tập tính, nhu cầu sinh học cũng như khu vực địa lý sinh sống.
- Đa dạng di truyền: Là tần suất và sự đa dạng các kiểu gen hoặc các kiểu gen khác nhau. Gen là đơn vị cơ bản của di truyền. Một khía cạnh quan trọng của đa dạng di truyền là nó cho phép các loài thích nghi dần với những áp lực của môi trường xung quanh theo thời gian. Không phải cá thể nào hay loài nào cũng có kiểu gen hay bộ gen cho phép chúng có thể duy trì được sự sống trong một điều kiện sống đặc biệt.
Việc một số cá thể hay loài mất đi do môi trường sống bị phá huỷ hay những điều kiện khác làm giảm tổng số lượng gen của loài và làm hạn chế khả năng thích nghi hay tiến hoá của loài. Do đó, nếu được duy trì thì sự đa dạng gen có thể làm tăng cơ hội sống cho loài.2 Nghiên cứu ĐDSH ở Việt Nam. Ở Việt Nam thuật ngữ ĐDSH mới chỉ được đề cập đến trong những năm cuối của thập kỷ 80. Tuy nhiên, những nghiên cứu cụ thể về Đa dạng sinh học thì được tiến hành từ lâu.
Đó là những công trình nghiên cứu về giới thực vật, động vật cùng những giá trị của chúng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số nghiên cứu về tính đa dạng sinh học của thực vật rừng Việt Nam. Các công trình nghiên cứu quan trọng về thực vật, tính đa dạng thực vật và rừng Việt nam có thể kể đến là: - Maurand P.
Supplément à la flore génerale de L' Indochine. 1907 - 1951 flore génerale de L' Indochine. - Phạm Hoàng Hộ, 1970 - 1972, Cây cỏ miền nam Việt Nam, tập 1 - 2. - Lê Khả Kế và NNK, 1969-1976, Cây cỏ thường thấy ở Việt nam, tập 1- 6.
- Viện Điều tra quy hoạch rừng, 1971 - 1989. Cây gỗ rừng Việt Nam, tập 1 - 7.900 loài cây có ích ở Việt Nam. Một số nghiên cứu về đa dạng sinh học của động vật rừng Việt Nam - Các công trình nghiên cứu quan trọng về động vật và tính đa dạng của tài nguyên động vật hoang dã Việt Nam có thể kể đến là: - Đại Nam Nhất Thống Chí của các nhà khoa học Triều Lê, Triều Nguyễn. - Công trình nghiên cứu của Brousmiche ( 1887 ) về một số loài động vật có giá trị kinh tế, dược liệu và phân bố của chúng ở Bắc bộ.
- Nghiên cứu của De Pousagues (1940) về các loài thú ở Đông Đương. - Mười năm nghiên cứu động vật ở Đông Dương của Boutan (1906). - Bước đầu phân loại thú Miền Nam Việt Nam của Vanpeneen (1969). - Từ những năm 1960 đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu động vật do các nhà khoa học Việt Nam thực hiện, đáng chú ý có các công trình nghiên cứu của Đào Văn Tiến (1964, 1983, 1985, 1989); Lê Hiền Hào (1973); Võ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Quí (1975, 1981, 1995); Đặng Huy Huỳnh ( 1968, 1975, 1986, 1994); Trần Kiên (1977); Phạm Trọng Ảnh (1983), Trần Hồng Việt (1983), Phạm Nhật (1993), Nguyễn Xuân Đặng (1994), Phạm Bình Quyền ( 2008) Kế hoạch hành động ĐDSH vùng bắc trung bộ.
Hà Chu Chữ (2008) Lâm sản ngoài gỗ - bảo tồn và phát triển. Phạm Bình Quyền, Nguyễn Ngọc Linh (2010) Nghiên cứu xây dựng khung quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của Việt Nam đến năm 2020. ( Cục bảo tồn đa dạng sinh học, báo cáo quốc gia về đa dạng sinh học, tổng cục môi trường 2010,…) - Những năm gần đây, được sự quan tâm của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và sự giúp đỡ về kỹ thuật cũng như tài chính của các tổ chức quốc tế như: UNDP, WWF, FFI, các nhà khoa học Quốc tế và Việt Nam đã phối hợp tổ chức nhiều đợt khảo sát trên phạm vi cả nước và đã phát hiện được thêm nhiều loài động vật cho thế giới. Tình hình nghiên cứu ĐDSH tại Kẻ Gỗ.
Theo báo cáo của chương trình điều tra đa dạng sinh học KBTTN Kẻ Gỗ (VCF, năm 2009 ) cho thấy Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ đã phát hiện 270 loài chim, 47 loài thú, 567 loài thực vật. Trong đó nổi bật có loài Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis) là một trong hai loài thú mới được phát hiện tại Việt Nam. Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ là nơi lưu dữ và bảo vệ 10 loài chim và 18 loài thú hiện đang bị đe dọa tuyệt chủng (Anon. Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ được xếp hàng ưu tiên trong chương trình bảo vệ đa dạng sinh học ở trong nước và Quốc tế.
Từ những giá trị đa tác dụng của khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ về môi trường sinh thái, kinh tế xã hội. đã thu hút được sự chú ý của Chính phủ Việt Nam và nhiều tổ chức Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên quan tâm. Chương trình tài trợ của Quỹ bảo tồn Việt Nam (VCF) số C06-08 của Hiệp hội phát triển Quốc tế IDA (Ngân hàng thế giới) có Dự án “Nâng cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 năng lực bảo tồn đa dạng sinh học và đồng quản lý ở Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ”. Hội thảo các bên liên quan về xác đinh ranh giới Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ là một trong những chương trình của Dự án nhằm mang lại một tầm nhìn, hiểu biết hơn về tầm quan trọng của Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ.
Trên cơ sở các bên liên quan (Ban quản lý Khu bảo tồn, chính quyền các cấp, các ngành và người dân sống xung quanh Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ) nắm rõ phạm vi ranh giới, giá trị địa lý, giá trị về đa dạng sinh học. và những ảnh hưởng tiêu cực đến Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ. Qua đó đánh gía đúng mức độ cấp bách và đưa ra được các giải pháp hữu hiệu nhất để bảo tồn hệ sinh thái cảnh quan và đa dạng sinh học tại đây. Kiểu rừng và khu hệ thực vật ở khu bảo tồn Kẻ Gỗ.
Khu bảo tồn Kẻ Gỗ trước đây được bao phủ bởi rừng kín thường xanh (Trần Xuân Thiệp, Lê Văn Chẩm. 1993) với nhiều loài cây gỗ quý, có giá trị kinh tế như Lim Xanh (Erythrophleum fordii), Sến mật (Madhuca pasquieri), Gụ lau (Sindora tonkinensis), Vàng tâm (Manglietia fordiana). Nhưng do giao thông thuận lợi, địa hình bằng phẳng, rừng bị khai thác mạnh ở các mức độ khác nhau. Hiện nay rừng nguyên sinh dưới dạng bị tác động nhẹ chỉ chiếm tỉ lệ khiêm tốn 24,0%.
Kiểu rừng kín thường xanh: Kiểu rừng này phân bố trên các đồi cao, độ dốc lớn như dốc núi Bạc Tóc, Mốc Len, Mốc Bưởi, Mốc Tám Lớ, và ranh giới phía nam của khu bảo tồn. Rừng đã bị chặt chọn một số cây có giá trị kinh tế, kết cấu rừng chưa thay đổi nhiều, thành phần loài thực vật khá phong phú và phức tạp. Ở độ cao 300 một trở lờn các loài Táu nến, Sao mặt quỷ ưu thế, chiếm 30-40% tổ thành rừng; Dưới độ cao 300m các loài thực vật ưu thế không rõ ràng thường gặp các loài Re (Cinnamumum spp). Dẻ (Castanopsis spp), Giổi (Michelia spp), Trín (schima wallichii), Lèo Hèo (Polyalthia nemoralis),Chua luỹ( Dacryodes dungii), Gụ (Sindora tonkinensis)… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Rừng trồng: Diện tích rừng trồng chiếm 5% diện tích khu bảo tồn, phân bố chủ yếu xung quanh khu vực hồ Kẻ Gỗ chủ yếu là Keo lá tràm (Ancacia auriculifomis), Keo tai tượng (Ancacia Mangium).
Khu hệ thực vật. Kết quả điều tra khu hệ thực vật bước đầu đó thống kê được 567 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 367 chi và 117 họ.