mở đầu là việc tổ chức Hội nghị Thế giới các VQG lần thứ nhất từ những năm 60 của thế kỷ XX; vấn đề đào tạo chuyên sâu về quản lý động thực vật hoang dã cũng đã được quan tâm; các giải pháp bảo tồn ĐDSH, các chương trình hỗ trợ bảo tồn bằng nhiều hình thức khác nhau như hưởng lợi từ động vật hoang dã, con người và sinh quyển cũng đã được triển khai. Điều đặc biệt quan trọng là cứ 10 năm một lần, hội nghị các VQG và KBT được tổ chức, bắt đầu từ việc hỗ trợ các KBT đến việc chú ý nhiều đến các KBT ở những vùng nhiệt đới, việc gặp gỡ của các tổ chức bảo tồn và các Chính phủ tại các hội nghị đã rút ra được nhiều kinh nghiệm từ thực tế cũng như cơ hội để các nước có tiếng nói chung về vấn đề bảo tồn. Càng về sau, hội nghị càng chú trọng nhiều đến tình hình thực tiễn của hoạt động bảo tồn, cụ thể là tại hội nghị lần V hiệp ước Durban về biến đổi khí hậu toàn cầu và kế hoạch hành động được thông qua (Ý Lâm, 2011). Có thể nói rằng, đến nay trên thế giới mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng bảo tồn ĐDSH đã được quan tâm một cách toàn diện.
Công tác quản lý bảo tồn ĐDSH không chỉ tập trung bảo vệ tài nguyên, xây dựng hệ thống các khu bảo tồn mà còn chú trọng đến giáo dục về quản lý và nâng cao hiệu quả trong điều hành cũng như nhận thức bảo tồn, chú ý đến khía cạnh xã hội nhân văn trong bảo tồn như phối hợp bảo tồn, bảo tồn dựa vào cộng đồng, chia sẻ lợi ích từ bảo tồn nhằm hướng đến đích cuối cùng là sử dụng bền vững các thành phần của ĐDSH, chia sẻ các lợi ích có được từ việc sử dụng các nguồn tài nguyên di truyền, một cách bình đẳng và công bằng. Phương thức tiếp cận được áp dụng trong quản lý bảo tồn ĐDSH Nhằm đảm bảo phát triển bền vững (PTBV), nhiều ngành, nhiều tổ chức liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên đang hình thành và xây dựng những phương Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 thức tiếp cận mới về quản lý, đó là: (1) Quản lý hệ sinh thái, (2) Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng, (3) Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên, (4) Bảo tồn và phát triển tổng hợp, (5) Phát triển bền vững. Các phương thức tiếp cận nêu trên đều giống nhau trong việc nỗ lực tìm kiếm một số giải pháp tối ưu để giải quyết mâu thuẫn và chia sẻ quyền lợi trong việc sử dụng các nguồn TNTN, mà những quyền lợi này có thể là giữa bảo tồn và phát triển, giữa cộng đồng địa phương và một quốc gia, hoặc giữa các nhóm người có liên quan trong xã hội. Điểm nổi bật trong các phương thức tiếp cận này là nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương cũng như những nhóm người trong xã hội có liên quan đến TNTN (những người hưởng lợi, những người bị tác động).
Các phương thức tiếp cận này đang được hình thành và phát triển nhằm khắc phục những hạn chế trong cách quản lý áp đặt từ trên xuống theo cách quan liêu bao cấp và đẩy mạnh cách thức quản lý TNTN từ dưới lên. Những điểm khác biệt cơ bản giữa các phương thức tiếp cận là sự nhìn nhận vấn đề, điểm trung tâm là tính ưu tiên của các phương pháp cụ thể được ứng dụng. Ví dụ: phương pháp tiếp cận hệ sinh thái quan tâm trước tiên là tính toàn vẹn của HST và nhìn nhận con người là một bộ phận của HST. Vì vậy muốn đạt được mục đích cơ bản trên thì phải tuân thủ các nguyên tắc của phát triển bền vững.
Vì thế, phương pháp tiếp cận là làm sao tận dụng được mọi thế mạnh của cộng đồng trong việc sử dụng và bảo vệ TNTN, để có thể chia sẻ lợi ích một cách công bằng cho cộng đồng địa phương được quan tâm trước tiên, nhưng tất nhiên đều phải gắn chặt với quyền lợi bảo tồn thiên nhiên để đảm bảo sự hài hoà. Trong khi đó, phương pháp tiếp cận đồng quản lý có nhiều đặc điểm giống với phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng, nhưng mang ý nghĩa rộng hơn, tức là quan tâm đến mọi đối tác, mọi nhóm xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tài nguyên, để đạt được mục đích là chia sẻ quyền lợi công bằng đồng thời không làm suy thoái TNTN và bảo vệ ĐDSH. Trên thế giới, phát triển bền vững, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng là vấn đề được chú trọng trong quản lý, sử dụng ĐDSH ở dải núi đá vôi nói riêng. Đây là điều kiện tiên quyết để tạo nên sự thay đổi cần thiết cho sự phát triển của xã hội sinh thái học bền vững.
Thực tế tại New Zealandcho thấy,vào những năm 1980, mạng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 lưới các VQG ở nước này bắt đầu phát triển và liên tục, vừa bảo vệ các vùng nhỏ, vừa tạo ra các khu giải trí cho cộng đồng. Ngoài ra, phục hồi rừng nghèo trên núi đá vôi như: Viện khoa học Quảng Tây và Quảng Đông - Trung Quốc đã nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt là nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây trên núi đá vôi: Toona sinensis, Delavaya toxocarpa, Chukrasia tabularis, Excentrodendron tonkinensis,…trong thời kỳ 1985 -1998 (Bộ Nông lâm nghiệp và Phát triển nông thôn, 1998). Những nghiên cứu đó đã được tổng kết sơ bộ sau nhiều hội thảo khoa học ở Học viện Lâm nghiệp Bắc Kinh với sự tham gia của nhiều nhà khoa học lâm nghiệp đầu ngành của Trung Quốc, bên cạnh đó các hướng dẫn về kỹ thuật phục hồi rừng trên núi đá vôi đã được xây dựng, gồm một số nguyên lý: Là một trong những HST rất nhạy cảm, có sự cân bằng mỏng manh và điều kiện sống rất khắc nghiệt; Tốc độ tăng trưởng của cây trên núi đá vôi rất chậm (trữ lượng gỗ bình quân 1 ha rừng nguyên sinh trên núi đá vôi chỉ bằng 1/2 trữ lượng gỗ bình quân rừng nguyên sinh trên đất); HST núi đá vôi có tính chống chịu cao; HST núi đá vôi có khả năng phục hồi rất khó vì thiếu các yếu tố lập địa cần thiết (Việt Nam, 2003). Tuy nhiên, những nguyên lý phục hồi và phát triển rừng trên núi đá vôi chưa được tổng kết một cách có hệ thống nên việc áp dụng những hướng dẫn này cho nhiều quốc gia khác gặp rất nhiều khó khăn.
Nghiên cứu bảo tồn ĐDSH ở Nước CHDCND Lào Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào vẫn còn có một quần thể động vật phong phú, với nhiều quần thể loài và môi trường sống của chúng có lẽ ít bị cạn kiệt ở Lào hơn so với một số nước khác trong khu vực. Mặc dù có một áp lực săn bắn đáng kể ở nước này, sự phong phú về nơi cư trú tương đối và, ở một số khu vực, khoảng cách xa các khu định cư của con người đã bảo vệ một phần động vật hoang dã của đất nước. Có 247 loài động vật có vú đã được báo cáo ở Lào, trong đó hơn một trăm con được xếp loại là "động vật lớn". Tuy nhiên, một tổng số chính xác các loài đã được xác nhận cho đến nay đã không có ý nghĩa như tốc độ xác nhận thêm các loài khác và việc điều tra đang tiến hành đối với các nhóm phân loại không chắc chắn (đặc biệt là lorises, langurs, lợn, con và sóc) bất kỳ con số nào đã lỗi thời trong vài tháng sau khi xuất bản.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Khảo sát đã ghi nhận gần 90 loài dơi, trong đó có 51 loài được coi là loài quan trọng. Có khoảng 700 loài chim đã được ghi nhận từ Lào, với khoảng 100 loài chim khác có khả năng xảy ra. Có một số loài bò sát và lưỡng cư ở Lào, bao gồm cả cá sấu Xiêm; Sông Agamid Lizard của Sông Phú Wua, gần như là loài đặc hữu của Lào với hơn 95% diện tích của nó ở trong nướcmà là hoàn toàn đặc hữu cho Lào. Chương trình Bảo tồn Động vật Hoang dã tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được thành lập năm 1994 đã hỗ trợ các cộng đồng và các cơ quan Chính phủ bảo vệ động vật hoang dã và môi trường sống tự nhiên trên toàn quốc thông qua việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị động vật hoang dã, và xây dựng nền tảng về năng lực nguồn nhân lực và kiến thức về bảo tồn.
WCS Lào hiện đang làm việc tại bốn khu vực chính ở vùng Trường Sơn bao gồm Phong cảnh Bolikhamxay, Khu bảo tồn Quốc gia Nakai Nam Theun, Khu Bảo tồn Quốc gia Nam Et-Phou Louey và Phong cảnh Savannakhet. Chương trình WCS Lào gắn bó sâu sắc với REDD + thông qua hỗ trợ cho quá trình chính sách REDD + quốc gia và tham gia vào một dự án trình diễn REDD + tại tỉnh Houaphan cùng với Dự án CliPAD của Chính phủ Lào-Đức về Bảo vệ Khí hậu. Thông qua việc tham gia WCS này dự kiến sẽ chứng minh làm thế nào để REDD + có thể được sử dụng như một nguồn tài chính bền vững vì lợi ích của việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế ở Lào. Chương trình WCS Lào cũng đã bắt đầu khảo sát những tác động của biến đổi khí hậu đối với các cảnh quan của nó để có thể xây dựng các kế hoạch quản lý thích ứng nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài của các loài dễ bị tổn thương và sinh kế.
+khí hậu thay đổi Một số nghiên cứu ở cấp khu vực và cấp quốc gia cho thấy Lào sẽ trải nghiệm nhiệt độ tăng, lượng mưa không dự đoán được và các sự kiện thời tiết thất thường hơn do biến đổi khí hậu. Ngược lại, điều này sẽ ảnh hưởng đến các quá trình sinh thái duy trì hệ sinh thái, loài và sinh kế của cộng đồng địa phương. Để giúp giảm nhẹ sự thay đổi khí hậu, WCS chủ động hỗ trợ các hoạt động thí điểm REDD + và các hoạt động thí điểm thể hiện các biện pháp bảo vệ rừng có thể liên kết với các cơ chế khuyến khích dựa trên cơ sở quốc tế. WCS cũng hỗ trợ cả chính phủ Lào và cộng đồng địa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.