CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN BẢO HỘ NHÃN HIỆU I/ GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU 1. Đôi nét về lĩnh vực sở hữu trí tuệ Xã hội càng văn minh, phát triển thì người ta càng quan tâm hơn tới các vấn đề sở hữu trí tuệ. Bất cứ khi nào một sản phẩm mới vào thị trường và thu hút khách hàng thành công, không sớm thì muộn sẽ bị đối thủ cạnh tranh sản xuất các sản phẩm giống hoặc tương tự. Trong một số trường hợp, đối thủ cạnh tranh sẽ hưởng lợi từ việc tiết kiệm về quy mô sản xuất, khả năng tiếp cận thị trường lớn hơn, có quan hệ tốt hơn với các nhà phân phối chính, hoặc tiếp cận với các nguồn nguyên liệu thô rẻ hơn và do đó, có thể sản xuất một sản phẩm tương tự hoặc giống hệt với giá thành rẻ hơn, tạo áp lực nặng nề lên nhà sáng tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ nguyên gốc.
Điều này, đôi khi, sẽ đẩy nhà sáng tạo gốc ra khỏi thị trường, đặc biệt khi họ đã đầu tư đáng kể vào việc phát triển sản phẩm mới thì đối thủ cạnh tranh lại hưởng lợi từ kết quả đầu tư đó mà chẳng mất chi phí nào cho thành quả sáng tạo và sáng chế. Đây là lý do quan trọng duy nhất để các doanh nghiệp phải cân nhắc khi sử dụng hệ thống sở hữu trí tuệ để bảo vệ sản phẩm sáng tạo và sáng chế của mình nhằm mang lại cho họ các độc quyền sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tác phẩm văn SV: Nguyễn Thị Hà Linh 2 Lớp: Luật kinh doanh quốc tế K51 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Hợp Toàn học nghệ thuật và các tài sản vô hình khác. Bảo hộ theo pháp luật sở hữu trí tuệ mang lại quyền sở hữu đối với tác phẩm sáng tạo hoặc đổi mới, và do đó, hạn chế phạm vi sao chép và bắt chước các đối thủ cạnh tranh một cách đáng kể. Lĩnh vực sở hữu trí tuệ gồm ba bộ phận: quyền tác giả và các quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng.
Khái niệm, đặc điểm của nhãn hiệu hàng hóa 2. Khái niệm nhãn hiệu Theo luật Sở hữu trí tuệ quy định: “ Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Như vậy thì, nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào có thể được thể hiện bằng từ ngữ, hình ảnh và có khả năng phân biệt hàng hóa của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau trong quá trình kinh doanh. Thậm chí, ở một số quốc gia, mùi, âm thanh, màu sắc cũng có thể coi là nhãn hiệu hàng hóa.
Do đó, nhãn hiệu sẽ giúp xác định được người sản xuất ra một mặt hàng và người ta dùng nhãn hiệu để biết được chất lượng của hàng hóa. Nhãn hiệu cũng đồng thời giúp khách hàng biết địa điểm cung cấp sự trợ giúp khi hàng hóa không đạt chất lượng. Quy định này của pháp luật Việt Nam hoàn toàn phù hợp với quy định trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa của một doanh nghiệp với hàng hóa của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa”. Các dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu hàng hóa Dấu hiệu từ ngữ: Từ ngữ là dấu hiệu được dùng phố biến nhất và chiếm số lượng lớn trong thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa.
Dấu hiệu là chữ cái và con số: Dấu hiệu này bao gồm một hay nhiều chữ cái, một hoặc nhiều chữ số hoặc kết hợp cả hai. Dấu hiệu là hình vẽ: Dấu hiệu này bao gồm các nét vẽ, biểu tượng hoặc hình họa hai chiều của hàng hóa hoặc bao bì. SV: Nguyễn Thị Hà Linh 3 Lớp: Luật kinh doanh quốc tế K51 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Hợp Toàn Dấu hiệu là sự kết hợp các từ ngữ, chữ cái, con số, hình vẽ với nhau: Loại dấu hiệu này được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam cũng như ở các nước khác. Dấu hiệu là các biểu tượng: Loại dấu hiệu này thường là các biểu tượng vui, hình vẽ… Dấu hiệu là tổ hợp màu sắc: Bao gồm các từ ngữ, hình ảnh và bất kỳ sự kết hợp nào giữa chúng có màu sắc hoặc có sự kết hợp màu sắc với các yếu tố khác hoặc chỉ riêng màu sắc.
Phân biệt khái niệm “nhãn hiệu” với “thương hiệu” và “nhãn hàng hóa” Mặc dù định nghĩa về nhãn hiệu đã được đưa ra, song, nhãn hiệu hàng hóa nhiều khi bị đánh đồng với nhãn hàng hóa và thương hiệu. Những khái niệm này cần được làm rõ, phân biệt với nhau. Sự khác biệt giữa nhãn hiệu hàng hóa với thương hiệu là ở tên tương tự nhau nhưng nhãn hiệu hàng hóa là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa của các tổ chức, cá nhân khác nhau; trong khi đó, thương hiệu là một thuật ngữ có phạm vi rộng hơn, nó bao hàm cả yếu tố nhãn hiệu và sự ghi nhận của thị trường, của người tiêu dùng về sản phẩm cũng như doanh nghiệp. Nó là tổng hợp của hai yếu tố hữu hình (hình ảnh, sản phẩm) và vô hình (chất lượng, uy tín, tình cảm của người tiêu dùng dành cho sản phẩm, dịch vụ của công ty).
Ta có thể coi nhãn hiệu là đại diện cho sự hiện hữu của cái tên, còn thương hiệu thể hiện cho “phần hồn” của nó. Như vậy, thương hiệu hàng hóa là nhãn hiệu hàng hóa đã được thương mại hóa, là kết quả của những nỗ lực xây dựng - phát triển của doanh nghiệp và là sự thừa nhận của người tiêu dùng đối với hàng hóa đó trên thị trường. Còn đối với nhãn hàng hóa, nếu như nhãn hiệu là một trong những yếu tố cấu thành thương hiệu, thì nhãn hàng hóa lại là một công cụ để thể hiện những thông tin đặc thù về hàng hóa đó cùng những thông tin khác theo quy định chung. Có thể phân biệt nhãn hiệu hàng hóa với nhãn hàng hóa theo những tiêu chí như sau: Bảng 1: Phân biệt nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hàng hóa Nhãn hiệu hàng hóa Nhãn hàng hóa - Khuyến khích đăng ký - Bắt buộc phải đăng ký SV: Nguyễn Thị Hà Linh 4 Lớp: Luật kinh doanh quốc tế K51 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Hợp Toàn - Được nhà nước bảo hộ - Không được bảo hộ - Thực hiện các chức năng phân biệt hàng hóa cùng loại - Cung cấp cho người tiêu dùng về sản phẩm 3.
Phân loại nhãn hiệu hàng hóa Việc phân loại nhãn hiệu có nhiều cách khác nhau, điều này phụ thuộc theo từng tiêu chí mà người ta lựa chọn làm căn cứ. Theo luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, thì nhãn hiệu bao gồm các loại sau: a. Nhãn hiệu hàng hóa: Được dùng để phân biệt hàng hóa nhất định do một doanh nghiệp cụ thể sản xuất. Nhãn hiệu tập thể: Thường thuộc sở hữu của một hiệp hội hoặc hợp tác xã, mà các thành viên có thể sử dụng nhãn hiệu tập thể để tiếp thị các sản phẩm của mình.
Hiệp hội thường xây dựng một tập hợp các tiêu chuẩn để sử dụng nhãn hiệu tập thể (như: tiêu chuẩn về chất lượng), và cho phép các thành viên sử dụng nhãn hiệu tập thể nếu đáp ứng được những tiêu chuẩn đó. Nhãn hiệu tập thể có thể coi là một hình thức liên kết hiệu quả trong việc tiếp thị sản phẩm của một nhóm doanh nghiệp khi mà mỗi thành viên gặp khó khăn trong việc quảng cáo và tiếp thị sản phẩm, để người tiêu dùng thừa nhận hoặc được phân phối trong một kênh chính thống. Nhãn hiệu chứng nhận: Đuợc cấp khi đáp ứng được những tiêu chuẩn định sẵn nhưng không giới hạn đối với thành viên. Nhãn hiệu có thể được sử dụng với bất kỳ người nào có sản phẩm đáp ứng được các tiêu chuẩn định sẵn.
Điểm khác biệt chính giữa nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể là: nhãn hiệu tập thể chỉ được sử dụng trong nhóm các doanh nghiệp như thành viên của hiệp hội; trong khi nhãn hiệu chứng nhận có thể được sử dụng bởi bất kỳ ai đáp ứng được những tiêu chuẩn định sẵn do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận quy định. SV: Nguyễn Thị Hà Linh 5 Lớp: Luật kinh doanh quốc tế K51 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Hợp Toàn d. Nhãn hiệu liên kết: Nhãn hiệu liên kết là những nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau, hoặc có liên quan với nhau. Nhãn hiệu nổi tiếng: Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Việc phân loại nhãn hiệu có ý nghĩa rất lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn. Phân loại nhãn hiệu sẽ cho phép xác định đặc trưng của một nhãn hiệu. Đặc trưng này không những ảnh hưởng tới yếu tố cảm nhận nhãn hiệu trong người tiêu dùng, tới tính chất của việc sử dụng nhãn hiệu mà còn ảnh hưởng tới cả quá trình đăng ký nhãn hiệu đó. Phân loại nhãn hiệu, hơn thế nữa, còn ảnh hưởng tới việc xác định chế độ pháp lý đối với từng loại nhãn hiệu cũng như giúp cho việc phân biệt nhãn hiệu với các dấu hiệu dùng để phân biệt khác như kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý.
Vai trò của nhãn hiệu hàng hóa 4. Vai trò của nhãn hiệu hàng hóa đối với các doanh nghiệp Các nhãn hiệu hàng hóa thành công tạo ra tài sản cho doanh nghiệp nhờ thu hút và giữ được khách hàng, vì vậy mà họ có thể đạt được thị phần lớn, duy trì mức giá cao và đạt doanh thu, lợi nhuận cao. Trong thế giới hàng hóa vô cùng đa dạng và phong phú ngày nay, người tiêu dùng sẽ chỉ chú ý lựa chọn những nhãn hiệu sản phẩm nổi tiếng, quen thuộc và phù hợp với họ. Vì vậy, xây dựng và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
Gắn nhãn hiệu cho hàng hóa giúp người bán thu hút được khách hàng, tăng cường mức độ trung thành của khách hàng đối với sản phẩm, đồng thời, thể hiện sự cam kết của công ty đối với sản phẩm. Khi một nhãn hiệu hàng hóa được xây dựng thành công, nó sẽ đảm bảo cho công ty một thị phần lớn và tương đối vững chắc.