Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP, KHU KINH TẾ NÓI CHUNG. Cơ sở lý luận về quản lý môi trường trong Khu công nghiệp, Khu kinh tế (KCN,KKT) nói chung. Khái niệm Môi trường là tổng thể những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó có con người hoặc sinh vật tồn tại và phát triển trong mối quan hệ với con người hoặc sinh vật ấy.(Từ điển tiếng Việt) Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, môi trường được hiểu là các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, phát triển của con người và sinh vật. Khái niệm này đã được khái quát trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, quy định tại điều 3.bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” Từ khái niệm môi trường, ta xác định được rằng môi trường bao gồm các yếu tố vật chất, bên ngoài con người hoặc sinh vật (tự nhiên hoặc nhân tạo) có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của con người hay sinh vật nào đó.
Đồng thời, những hoạt động của con người lại tác động trở lại với môi trường. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội, con người đã có rất nhiều hoạt động tạo ra những biến đổi theo chiều hướng xấu và đáng lo ngại cho môi trường sống của chính con người cũng như sinh vật. Phân loại Có thể phân chia môi trường sống thành 3 loại: Môi trường tự nhiên: Bao gồm những yếu tố được hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên như đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật. Môi trường nhân tạo: Bao gồm toàn bộ những yếu tố vật chất, sản phẩm do con người tạo ra nhằm tác động tới các yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu bản thân mình như: hệ thống đê điều, các công trình nghệ thuật, các công trình văn hoá kiến trúc,.
Môi trường xã hội: “Là tổng thể các mối quan hệ giữa người với người tạo nên những thuận lợi hoặc khó khăn cho sự tồn tại phát triển của cá nhân và cộng đồng SV: Vũ Thị Thanh Huyền 7 Lớp: Luật kinh doanh quốc tế 52 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Thị Thanh Thủy người” Trong cuộc sống thực tế cả 3 loại môi trường đều cùng tồn tại đan xen lẫn nhau, tương tác với nhau hết sức chặt chẽ. Sự suy thoái, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên sẽ dẫn đến sự suy thoái và ô nhiễm môi trường tự nhiên, từ đó gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống của con người. Phân dạng những mối quan hệ phát sinh trong quản lý môi trường.
Các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ môi trường có thể phân loại theo các nhóm sau: Thứ nhất, Dạng quan hệ pháp luật giữa một bên là các cá nhân, tổ chức với một bên là Nhà nước phát sinh từ hoạt động quản lý nhà nước về quản lý môi trường. Dạng quan hệ này có những đặc trưng của quan hệ pháp luật hành chính, nhất là quan hệ phát sinh từ việc xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, lĩnh vực khiếu nại, tố cáo các hành vi của các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật môi trường. Những quan hệ này bao gồm: + Quan hệ phát sinh từ hoạt động đánh giá tác động môi trường. + Quan hệ phát sinh từ hoạt động thanh tra việc thực hiện pháp luật và chính sách môi trường.
+ Quan hệ phát sinh từ việc xử lý vi phạm pháp luật môi trường. Thứ hai, Dạng quan hệ pháp luật phát sinh giữa các cá nhân, tổ chức với nhau do sự thoả thuận ý chí của các bên. Các bên trong mối quan hệ này thực hiện các quyền của mình trong lĩnh vực môi trường một cách bình đẳng trong khuôn khổ của pháp luật, mối quan hệ này ngày càng phổ biến hơn do khả năng định hướng hành vi chủ thể không phải là chế tài, hình phạt mà là các lợi ích kinh tế. Dạng quan hệ này mang đặc trưng tính chất dân sự thương mại trong lĩnh vực môi trường bao gồm: + Quan hệ về bồi thường thiệt hại do việc gây ô nhiễm, suy thoái hay sự cố môitrường gây nên; + Quan hệ phát sinh từ việc hợp tác khắc phục thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái hoặc sự cố môi trường gây ra.
+ Quan hệ phát sinh từ việc giải quyết tranh chấp môi trường + Quan hệ trong lĩnh vực phối hợp đầu tư vào các công trình bảo vệ môi trường. Với tư cách là phương tiện hàng đầu của quản lý nhà nước về môi trường, pháp luật xác định địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, các tổ chức sản xuất kinh doanh có liên quan đến lĩnh vực chất thải, tạo hành lang pháp lý để các chủ thể này tham gia vào các quan hệ pháp luật môi trường để khai thác, sử dụng các thành phần môi trường một cách hiệu quả và đảm bảo công tác bảo vệ môi trường quốc gia. Quản lý môi trường trong KCN, KKT. Quản lý môi trường trong KCN, KKT thể hiện trên hai phương diện đó là đánh giá tác động môi trường tự nhiên và đánh giá tác động môi trường xã hội.
SV: Vũ Thị Thanh Huyền 8 Lớp: Luật kinh doanh quốc tế 52 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Thị Thanh Thủy Nội dung quản lý môi trường tự nhiên được Cơ quan nhà nước, Chủ dự án và các bên có liên quan thực hiện quản lý môi trường theo Báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) có xác lập các chương trình và kế hoạch bảo vệ môi trường cụ thể. Phía Công ty chủ dự án sẽ lập Chương trình quản lý môi trường và xã hôi, Kế hoạch quản lý môi trường và xã hội (ESMP) và Kế hoạch ứng phó sự cố môi trường theo những quy trình hoạt động an toàn và hiệu quả cho dự án và người lao động theo đúng yêu cầu của Pháp luật Việt Nam và Ngân hàng thế giới/ Các tổ chức tài chính quốc tế đối với các Dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Về phía Cơ quan nhà nước sẽ thực hiện giám sát, đôn đốc, kiểm tra tiến độ hoạt động có tuân thủ theo đúng các nội dung của Báo cáo ĐTM hay không.
Nội dung quản lý môi trường xã hội được Cơ quan nhà nước, Chủ dự án và các bên có liên quan thực hiện quản lý môi trường xã hội theo Báo cáo đánh giá tác động môi trường và hệ thống cơ chế và chính sách pháp luật, chính sách của công ty liên quan đến các chính sách tuyển dụng, thực hiện tái định cư, chính sách đền bù, hoạt động mai táng hỏa táng và các chính sách xã hội khác của dự án. Cơ quan nhà nước và Ban quản lý Khu công nghiệp thống nhất phối hợp thực hiện các nội dung quản lý một cách hiệu quả và tạo môi trường hoạt động ưu việt cho các dự án nói chung trong KCN KKT 1. Cơ sở pháp luật điều chỉnh vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường tại KCN,KKT 1. Nguồn luật và các văn bản dưới luật điều chỉnh vấn đề quản lý môi trường (QLMT )trong các KKT KCN Để thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong hoạt động QLMT, Nhà nước đã xây dựng hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về chất thải.
Hệ thống các cơ quan môi trường này quản lý về hoạt động môi trường trong khu công nghiệp trong đó có việc thực thi pháp luật và triển khai hệ thống chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về quản lý môi trường trong các khu công nghiệp. Nhà nước đã ban hành một hệ thống VBPL quan trọng, tạo hành lang pháp lí cho hoạt động quản lý chất thải trong các khu công nghiệp như sau: - Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi năm 2009. Cụ thể tại chương 17 có quy định về trách nhiệm hình sự đối với những hành vi xâm hại các yếu tố môi trường như: tội làm ô nhiễm không khí, tội làm ô nhiễm đất, tội làm ô nhiễm nguồn nước. SV: Vũ Thị Thanh Huyền 9 Lớp: Luật kinh doanh quốc tế 52 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.
Nguyễn Thị Thanh Thủy - Bộ luật dân sự 2005, bộ luật này điều chỉnh một số quan hệ dân sự gắn với việc bảo vệ môi trường, cụ thể Điều 263,270,624 là các điều luật liên quan đến việc sử dụng, định đoạt, sở hữu tài sản với nghĩa vụ bảo vệ môi trường. - Luật Bảo vệ môi trường 2005. Đây là nguồn luật cơ bản nhất của pháp luật môi trường Việt Nam hiện hành, đạo luật này có 15 chương, 136 điều. - Luật đất đai 2009 (đã bổ sung các điều về đầu tư xây dựng cơ bản và tiếp tục sửa đổi theo Luật đất đai 2013 có hiệu lực vào 1/7/2014) -Luật khoáng sản 2010.
Đây là đạo luật chứa đựng rất nhiều các quy định về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản. -Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 -Luật đa dạng sinh học số 20/2008/QH12. -Luật tài nguyên nước 1998 -Luật dầu khí 2008 -Luật thủy sản 2003 -Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989. -Luật An toàn thực phẩm 2010 Các văn bản dưới luật điều chỉnh vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải trong KCN KKT tồn tại dưới nhiều hình thức như Pháp lệnh của UBTVQH; Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ; Các quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ và Cơ quan ngang bộ, của Chủ tịch UBND Tỉnh.
- Nghị định 80/2006/NĐ-CP Nghị định về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường - Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; - Nghị định 201/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước. SV: Vũ Thị Thanh Huyền 10 Lớp: Luật kinh doanh quốc tế 52 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.