Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với khoảng 80% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn và gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp. Các mặt hàng nông sản của Việt Nam phong phú về chủng loại và đạt sản lượng lớn, sở hữu lợi thế cạnh tranh quốc tế trong sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như lúa gạo, cà phê, hạt điều, chè và cao su. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ rõ rệt; tình trạng cung vượt quá cầu tại thời điểm thu hoạch thường xuyên dẫn đến hiện tượng giá nông sản sụt giảm mạnh trên thị trường tiêu thụ. Do đó, các chủ thể sản xuất nông nghiệp và doanh nghiệp xuất khẩu phải đối mặt với rủi ro biến động giá liên tục, rơi vào thế bị động khi xây dựng kế hoạch sản xuất và kinh doanh.
Trên bình diện quốc tế, mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa đã hình thành và phát triển tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường từ thập niên 40 của thế kỷ XIX, khởi đầu với sự ra đời của Sở giao dịch hàng hóa Chicago (CBOT) vào năm 1848 tại Mỹ. Tính đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, toàn cầu đã có hơn 40 Sở giao dịch hàng hóa kết nối mạng giao dịch, đóng vai trò công cụ phòng ngừa rủi ro biến động giá và hỗ trợ phát triển kinh tế. Trái lại, tại Việt Nam vào năm 2008, phương thức mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa vẫn còn rất mới mẻ, chưa có một Sở giao dịch hàng hóa nào được thành lập và vận hành trên thực tế. Nền tảng pháp lý trong nước mới chỉ bước đầu ghi nhận tại Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận bao gồm:
- Nghiên cứu và luận giải những cơ sở lý luận cùng kinh nghiệm của một số quốc gia về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Phát hiện và đánh giá đúng thực trạng hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam, từ đó xác định hệ thống giải pháp phát triển phù hợp.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 5 nội dung:
- Nghiên cứu vấn đề cơ sở lý luận mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.
- Nghiên cứu kinh nghiệm một số nước thực hiện mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.
- Dự báo khả năng phát triển hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị để phát triển mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quan hệ pháp lý, cơ chế tổ chức vận hành của Sở giao dịch hàng hóa và các phương thức giao dịch hàng hóa tập trung. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm các thị trường giao dịch hàng hóa quốc tế tiêu biểu (Mỹ, Singapore, Thái Lan) và thị trường Việt Nam. Phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn khảo sát số liệu từ năm 2005 đến năm 2007, trong bối cảnh các quy định pháp luật thương mại Việt Nam có hiệu lực thi hành.
Cơ sở lý thuyết, pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận kết hợp khung lý thuyết thương mại quốc tế và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định để tiếp cận vấn đề nghiên cứu. Tác giả tham khảo các công trình lý thuyết chuyên khảo về thị trường giao sau và phái sinh hàng hóa, tiêu biểu như tác phẩm của Giáo sư Steven C. Blank (Đại học California) với cuốn Thị trường tương lai và quyền chọn, Giáo sư Ross Buckley với cuốn Giới thiệu chung về giao dịch tương lai hàng hóa, cùng các nghiên cứu trong nước của ThS. Hà Thị Thanh Bình và các giáo trình nghiệp vụ ngoại thương.
Về cơ sở pháp lý và khái niệm học thuật, tác giả đối chiếu và vận dụng:
- Định nghĩa mua bán và hàng hóa từ Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 2).
- Điều khoản loại trừ đối tượng hàng hóa theo Điều 2 Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
- Khái niệm hàng hóa và quy định pháp lý tại Hoa Kỳ theo tài liệu Business Law (McGraw-Hill, 1983).
- Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 3 về hoạt động thương mại, hàng hóa, mua bán hàng hóa; Điều 63 về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa) và Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006.
- Hệ thống pháp luật nước ngoài: Luật Sở giao dịch hàng hóa năm 2000 của Mỹ (CEA - nằm trong Đạo luật sửa đổi Giao dịch hàng hóa tương lai năm 2000), Luật Mua bán hàng hóa năm 2001 (CTA) và Luật Chứng khoán và Giao dịch tương lai (SFA) của Singapore, Luật Mua bán tương lai hàng nông sản năm 1999 (AFTA) của Thái Lan.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng trên thực tế bao gồm phương pháp thu thập tư liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh luật học, cùng phương pháp diễn giải và quy nạp khoa học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo giao dịch của các Sở giao dịch hàng hóa quốc tế (CBOT, SICOM, AFET) và số liệu thống kê kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng nông sản chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2007.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Lý luận chung về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa
Chương I tập trung xây dựng cơ sở lý luận về thương mại hàng hóa và mô hình giao dịch tập trung qua Sở giao dịch hàng hóa. Mua bán hàng hóa được xác định với ba đặc trưng cơ bản: là hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi; đối tượng mua bán là hàng hóa được phép lưu thông (bao gồm động sản hiện có hoặc hình thành trong tương lai); và xác lập nghĩa vụ tương hỗ giữa việc giao hàng, chuyển quyền sở hữu với nghĩa vụ thanh toán tiền. Tác giả phân tích và đối sánh sáu phương thức mua bán hàng hóa phổ biến:
- Buôn bán thông thường trực tiếp: tiến hành qua sáu bước cơ bản gồm hỏi hàng, chào hàng, đặt hàng, hoàn giá, chấp nhận và xác nhận.
- Giao dịch qua trung gian: bao gồm đại lý (đại lý thụ ủy, đại lý hoa hồng, đại lý kinh tiêu), môi giới và ủy thác mua bán hàng hóa.
- Buôn bán đối lưu: phương thức trao đổi hàng lấy hàng với các nghiệp vụ truyền thống (hàng đổi hàng, bù trừ) và hiện đại (thanh toán bình hành, chuyển nợ, bồi hoàn, mua lại sản phẩm).
- Đấu giá hàng hóa: phân loại theo hình thức trả giá (tăng dần, giảm dần, trả giá kín) và mục đích (thương mại hoặc phi thương mại).
- Đấu thầu hàng hóa: phân loại theo phạm vi tham gia (rộng rãi, hạn chế) hoặc phương thức hồ sơ (một túi hồ sơ, hai túi hồ sơ).
- Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa: phương thức mua bán đặc thù với sự tham gia của pháp nhân trung gian là Sở giao dịch.
Về bản chất, Sở giao dịch hàng hóa là tổ chức nghề nghiệp có tư cách pháp nhân, cung cấp và duy trì địa điểm mua bán cụ thể, có tổ chức với cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết để thực hiện giao dịch các hợp đồng hàng hóa đã được tiêu chuẩn hóa theo quy tắc giao dịch độc lập. Cơ cấu tổ chức chuẩn của một Sở giao dịch bao gồm sáu bộ phận: Ban giám đốc, Sàn giao dịch, Phòng thanh toán bù trừ (Clearing house), Trung tâm thông tin, Phòng môi giới và Ban niêm yết giá. Về phân loại, Sở giao dịch được chia theo mặt hàng kinh doanh chính (ngũ cốc; gia súc; cà phê, đường, ca cao; bông vải; năng lượng, kim loại), theo hình thức sở hữu (sở hữu nhà nước hoặc sở hữu tư nhân), và theo cách thức giao dịch (hữu hình truyền thống hoặc điện tử).
Giao dịch qua Sở mang các đặc điểm riêng biệt: thực hiện qua hợp đồng mẫu chuẩn hóa về khối lượng, phẩm cấp, thời gian và địa điểm giao nhận; hàng hóa thường chưa hiện hữu tại thời điểm giao kết; nghĩa vụ thực hiện tại thời điểm ấn định trong tương lai; phần lớn giao dịch là giao dịch khống nhằm bù trừ chênh lệch giá chứ không nhận hàng vật chất; và hoạt động dưới sự giám sát nghiêm ngặt của tổ chức thanh toán bù trừ. Ba phương thức giao dịch cụ thể gồm:
- Mua bán giao ngay: hợp đồng hiện vật, giao hàng và thanh toán ngay, chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 5% tổng số giao dịch tại Sở.
- Hợp đồng tương lai: thỏa thuận giao hàng tại mức giá và thời điểm xác định trong tương lai; yêu cầu ký quỹ bảo chứng và điều chỉnh tài khoản hàng ngày. Tác giả chỉ rõ hai cơ chế bù giá phát sinh khi thị trường biến động trái dự đoán: bù hoãn mua (Contango) đối với bên mua và bù hoãn bán (Backwardation) đối với bên bán; phục vụ hai nhóm đối tượng là nhà đầu cơ (đầu cơ giá lên - bull, đầu cơ giá xuống - bear) và nhà tự bảo hiểm (hedger).
- Hợp đồng quyền chọn: bao gồm quyền chọn mua (call option) và quyền chọn bán (put option). Điểm vượt trội của quyền chọn là người mua quyền giới hạn mức lỗ tối đa bằng phí quyền chọn đã trả ban đầu, trong khi người bán quyền phải đối mặt với mức lỗ tiềm năng không giới hạn tùy thuộc biến động thị trường.
Khóa luận hệ thống hóa ba nhóm vai trò của phương thức này:
- Đối với nền kinh tế: phân tán và san sẻ rủi ro biến động giá; định hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế phát hiện giá công khai; bảo vệ nhà đầu tư qua cơ chế ký quỹ và bảo lãnh của phòng thanh toán; tự điều chỉnh giá cả thị trường.
- Đối với quản lý nhà nước: đóng vai trò phong vũ biểu dự báo kinh tế vĩ mô; thúc đẩy tiêu chuẩn hóa chất lượng hàng hóa xuất khẩu theo chuẩn quốc tế; phục vụ công tác thống kê thương mại chính xác.
- Đối với xã hội: giảm thiểu tổng chi phí rủi ro xã hội và tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực sản xuất.
Chương II: Kinh nghiệm thực hiện mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa tại một số nước
Chương II nghiên cứu thực tiễn lập pháp và vận hành mô hình Sở giao dịch hàng hóa tại Mỹ, Singapore và Thái Lan:
Kinh nghiệm của Mỹ: Khung pháp lý điều chỉnh là Luật Sở giao dịch hàng hóa năm 2000 (CEA) thuộc Đạo luật sửa đổi Giao dịch hàng hóa tương lai năm 2000 (thông qua ngày 29/12/2000), thay thế các văn bản đơn lẻ trước đó (Luật ngũ cốc 1922, Luật bông 1941, Luật 1936). CEA đưa ra danh mục "hàng hóa" rất rộng, loại trừ dịch vụ, quyền và lãi suất. Luật quy định chặt chẽ về tư cách chủ thể tham gia hợp đồng hợp pháp (Eligible Contract Participants), đòi hỏi điều kiện năng lực tài chính nghiêm ngặt: quỹ kinh doanh hàng hóa phải có tổng tài sản từ 5 triệu USD trở lên; doanh nghiệp, công ty hợp danh, quỹ tín thác phải có tài sản trên 10 triệu USD; cá nhân phải có tài sản trên 10 triệu USD (hoặc 5 triệu USD nếu giao dịch vì mục đích quản trị rủi ro).
Cơ chế quản lý vận hành theo mô hình song hành: Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai (CFTC) là cơ quan cấp Liên bang cao nhất có thẩm quyền cấp phép, xét duyệt hợp đồng, thanh tra và chế tài; phối hợp với Hiệp hội Mua bán Hàng hóa Tương lai (NFA) - tổ chức tự quản bắt buộc đối với mọi chủ thể kinh doanh trên sàn nhằm ngăn chặn gian lận và thao túng thị trường. Hệ thống thanh toán bù trừ bắt buộc phải đăng ký với CFTC. Về quy mô thị trường, nhà đầu tư tại Mỹ tham gia giao dịch với mức ký quỹ ban đầu chiếm khoảng 10% đến 20% giá trị hợp đồng. Khóa luận tổng hợp số liệu giao dịch hợp đồng tại Sở giao dịch hàng hóa Chicago (CBOT):
| Năm | Số lượng hợp đồng giao dịch trên CBOT (triệu hợp đồng) |
|---|---|
| 2005 | 674,651 |
| 2006 | 805,197 |
| 2007 | 783,445 |
Các Sở giao dịch tiêu biểu tại Mỹ được khảo sát bao gồm: CBOT (thành lập 1848, bắt đầu thử nghiệm hệ thống điện tử từ năm 1994 bên cạnh đấu giá mở), CME (giao dịch hợp đồng gia súc sống và thịt lợn), CSCE (cà phê, đường, ca cao tại New York), KCBT (ngũ cốc tại Kansas), MGE (ngũ cốc Minneapolis và hợp đồng thủy sản tôm hùm độc quyền), NYCE (bông vải New York, thành lập 1870) và NYMEX (thị trường năng lượng và kim loại quý lớn nhất thế giới, hợp nhất năm 1994).
Kinh nghiệm của Singapore: Khung pháp lý gồm Luật Mua bán hàng hóa năm 2001 (CTA) và Luật Chứng khoán và Giao dịch tương lai (SFA). Trong đó, SFA điều chỉnh thị trường phái sinh tài chính, tiền tệ, chứng khoán, vàng và dầu mỏ; còn CTA điều chỉnh toàn bộ các hàng hóa vật chất thương mại còn lại. CTA quy định ba phương thức mua bán (giao ngay, tương lai, quyền chọn), trong đó hợp đồng tương lai bao hàm cả giao dịch quyền chọn. Việc cấp phép thành lập Sở giao dịch hàng hóa tương lai thuộc thẩm quyền của Hội đồng Doanh nghiệp Quốc tế Singapore; các khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng được gửi lên Bộ trưởng trong vòng 30 ngày và quyết định của Bộ trưởng là quyết định cuối cùng. Hoạt động thị trường được phản ánh qua số lượng hợp đồng giao dịch tại Sở giao dịch hàng hóa Singapore (SICOM) và Sở giao dịch Singapore (SGX) giai đoạn 2005 - 2007.
Kinh nghiệm của Thái Lan: Khung pháp lý điều chỉnh là Luật Mua bán tương lai hàng nông sản năm 1999 (AFTA). Cơ quan quản lý chuyên trách cấp nhà nước là Ủy ban Giao dịch Tương lai Hàng nông sản Thái Lan (AFTC). Khác với mô hình tư nhân tại Mỹ, Sở giao dịch hàng nông sản Thái Lan (AFET) được thành lập với hình thức sở hữu 100% vốn nhà nước, tập trung giao dịch các mặt hàng nông sản nhiệt đới với số liệu hợp đồng giai đoạn 2005 - 2007 được theo dõi định kỳ.
Từ kinh nghiệm quốc tế, tác giả đúc kết bài học cho Việt Nam về: xây dựng khung pháp lý độc lập; thiết lập cơ quan quản lý chuyên trách tương tự mô hình CFTC/AFTC kết hợp tổ chức tự quản; lựa chọn mô hình sở hữu Sở giao dịch phù hợp với điều kiện ban đầu; và tiêu chuẩn hóa hệ thống phòng thanh toán bù trừ để bảo đảm an toàn thanh toán.
Chương III: Thực trạng và giải pháp phát triển mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam
Chương III đánh giá toàn diện môi trường thực tiễn tại Việt Nam:
- Về cơ sở pháp lý: Việt Nam đã ban hành các quy định khung tại Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.
- Về thực trạng thị trường: Chưa hình thành Sở giao dịch hàng hóa trên thực tế; hoạt động giao dịch phái sinh nông sản chưa được triển khai đồng bộ; các doanh nghiệp xuất khẩu và người sản xuất nông nghiệp trong nước vẫn chủ yếu sử dụng phương thức mua bán truyền thống hoặc ủy thác xuất khẩu, chịu toàn bộ rủi ro khi thị trường thế giới biến động.
- Dự báo khả năng phát triển: Tác giả khẳng định tiềm năng to lớn dựa trên quy mô xuất khẩu thực tế của bốn nhóm nông sản chủ lực giai đoạn 2005 - 2007:
| Nhóm hàng xuất khẩu | Tình trạng và căn cứ thống kê trong khóa luận (2005 - 2007) |
|---|---|
| Gạo | Khảo sát qua Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam 2005 - 2007 |
| Cà phê | Khảo sát qua Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam 2005 - 2007 |
| Điều | Khảo sát qua Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu điều của Việt Nam 2005 - 2007 |
| Cao su | Khảo sát qua Bảng 7: Kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam 2005 - 2007 |
Hệ thống giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất gồm hai nhóm trọng tâm:
- Các giải pháp phát triển:
- Hoàn thiện môi trường pháp lý: rà soát, bổ sung các thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2006/NĐ-CP, luật hóa các quy chuẩn hợp đồng mẫu, tiêu chuẩn hàng hóa giao dịch và quy chế pháp lý cho tổ chức thanh toán bù trừ.
- Đẩy mạnh quản lý nhà nước: phân định thẩm quyền quản lý giữa các bộ ngành liên quan, thiết lập cơ chế giám sát giao dịch và kiểm soát rủi ro thị trường.
- Chính sách hỗ trợ từ Nhà nước: ưu đãi đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho sàn giao dịch, hỗ trợ tín dụng và đào tạo nguồn nhân lực chuyên trách.
- Các kiến nghị cụ thể:
- Về xây dựng và phát triển hoạt động mua bán qua Sở: định hướng thành lập Sở giao dịch theo lộ trình từ thí điểm đến mở rộng, ưu tiên niêm yết các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực có thế mạnh cạnh tranh.
- Về thành phần tham gia thị trường: khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu, hiệp hội ngành hàng, các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại tham gia với tư cách thành viên kinh doanh, thành viên môi giới và cung ứng dịch vụ thanh toán bù trừ.
- Các kiến nghị khác: phối hợp liên ngành giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT), Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp trong công tác chuẩn hóa vùng nguyên liệu nông sản đáp ứng tiêu chuẩn giao dịch của Sở.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã làm rõ bản chất kinh tế và cơ sở pháp lý của phương thức mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch, chứng minh tính ưu việt của công cụ hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn trong việc phòng vệ giá so với các giao dịch truyền thống. Tác giả cung cấp bức tranh số liệu xác thực về thị trường quốc tế, tiêu biểu là khối lượng giao dịch hợp đồng tại CBOT đạt đỉnh 805,197 triệu hợp đồng vào năm 2006 và đạt 783,445 triệu hợp đồng vào năm 2007; tỷ lệ giao dịch giao ngay chỉ chiếm xấp xỉ 5%; và mức ký quỹ bảo chứng tại Mỹ dao động từ 10% đến 20% giá trị hợp đồng. Đồng thời, văn bản đã hệ thống hóa các chỉ số kim ngạch xuất khẩu của bốn ngành hàng lúa gạo, cà phê, điều và cao su Việt Nam giai đoạn 2005 - 2007 làm căn cứ định lượng cho tính khả thi của việc lập sàn.
Về giải pháp và kiến nghị, tác giả xây dựng định hướng ba trụ cột nhằm đưa Nghị định số 158/2006/NĐ-CP vào thực tiễn: hoàn thiện khung pháp lý về quy chế thành viên và thanh toán bù trừ; tăng cường vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước; và huy động các tổ chức kinh tế, ngân hàng thương mại cùng các hiệp hội ngành hàng tham gia tạo lập thanh khoản thị trường.
Về đóng góp khoa học, tác giả tự nêu trong lời nói đầu: trước thời điểm khóa luận được thực hiện, các công trình trong nước của các tác giả đi trước tuy đã đề cập đến hoạt động mua bán qua Sở giao dịch hàng hóa và thị trường giao sau nhưng chưa có công trình nào đi sâu, tập trung nghiên cứu hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa một cách có hệ thống từ lý luận, kinh nghiệm lập pháp quốc tế đến thực trạng và giải pháp áp dụng cụ thể cho thị trường Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế nghiên cứu, tác giả thừa nhận trong lời cảm ơn: do những hạn chế về mặt thời gian, phạm vi nguồn tư liệu tiếp cận trong nước vào năm 2008 đối với một định chế hoàn toàn mới, cũng như kinh nghiệm nghiên cứu thực tế của sinh viên, khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định trong việc phân tích sâu các nghiệp vụ kỹ thuật tài chính phức tạp.
Về hướng nghiên cứu tiếp, căn cứ trên phạm vi đề tài, nghiên cứu mở ra hướng khảo sát khi Việt Nam chính thức cấp phép thành lập các Sở giao dịch hàng hóa thí điểm; nghiên cứu chi tiết quy chế vận hành kỹ thuật của phòng thanh toán bù trừ độc lập; xây dựng bộ tiêu chuẩn phân cấp chất lượng chi tiết cho từng mặt hàng nông sản cụ thể (cà phê Robusta, gạo xuất khẩu); và đánh giá tác động của các cam kết hội nhập thương mại quốc tế đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài tham gia thị trường phái sinh hàng hóa trong nước.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu học thuật tham khảo hữu ích cho sinh viên, giảng viên và nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Luật Kinh doanh Quốc tế, Luật Thương mại, Quản trị Kinh doanh và Kinh tế Đối ngoại. Nghiên cứu cung cấp hệ thống khái niệm chuyên ngành, thuật ngữ đối chiếu Anh - Việt chuẩn mực (như hợp đồng tương lai, quyền chọn mua/bán, bù hoãn mua, bù hoãn bán) cùng quy trình so sánh lập pháp chặt chẽ.
Đối với các nhà hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý thương mại và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nông sản, phần tổng kết kinh nghiệm lập pháp của Mỹ (Luật CEA năm 2000), Singapore (Luật CTA năm 2001) và Thái Lan (Luật AFTA năm 1999) tại Chương II cùng hệ thống kiến nghị chính sách tại Chương III là nguồn tư liệu thực tiễn giá trị để nghiên cứu thiết lập cơ chế quản lý, giám sát và vận hành sàn giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Sở giao dịch hàng hóa đầu tiên trên thế giới được thành lập vào năm nào và ở đâu?
Sở giao dịch hàng hóa đầu tiên trên thế giới là Sở giao dịch hàng hóa Chicago (The Chicago Board of Trade - CBOT), được thành lập vào năm 1848 tại Mỹ. Sự ra đời của CBOT đã đánh dấu bước ngoặt hình thành thị trường mua bán hàng hóa tương lai có tổ chức.
2. Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa được định nghĩa như thế nào trong khóa luận?
Căn cứ khoản 1 Điều 63 Luật Thương mại năm 2005, khóa luận nêu rõ: Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó các bên thỏa thuận việc mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua Sở giao dịch hàng hóa theo những tiêu chuẩn của Sở giao dịch hàng hóa với giá được thỏa thuận tại thời điểm hiện tại, thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai.
3. Đạo luật liên bang nào của Mỹ và cơ quan nào giữ thẩm quyền cao nhất quản lý thị trường hàng hóa tương lai?
Đạo luật điều chỉnh hoạt động này ở Mỹ là Luật Sở giao dịch hàng hóa (Commodity Exchange Act - CEA) nằm trong phần thứ nhất của Đạo luật sửa đổi Giao dịch hàng hóa tương lai năm 2000 (được thông qua ngày 29/12/2000). Cơ quan quản lý nhà nước cao nhất ở cấp Liên bang là Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai (CFTC), phối hợp với tổ chức tự quản là Hiệp hội Mua bán Hàng hóa Tương lai (NFA).
4. Bù hoãn mua (Contango) và bù hoãn bán (Backwardation) phát sinh trong trường hợp nào?
Trong giao dịch hợp đồng tương lai, khi giá cả biến động không đúng như dự đoán của các bên, bên dự đoán không đúng có thể đề nghị đối phương xin trả một khoản tiền bù. Khoản tiền bù mà bên mua phải bỏ ra được gọi là bù hoãn mua (Contango), còn khoản tiền bù mà bên bán phải bỏ ra được gọi là bù hoãn bán (Backwardation).
5. Vì sao giao dịch mua bán giao ngay chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ (khoảng 5%) tại các Sở giao dịch hàng hóa?
Tại Sở giao dịch hàng hóa, phần lớn các giao dịch được thực hiện dưới hình thức hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn nhằm mục đích đầu cơ kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá hoặc tự bảo hiểm (hedging) để phòng ngừa rủi ro biến động giá. Đến thời điểm đáo hạn, các bên chủ yếu thực hiện thanh toán bù trừ khoản chênh lệch giá qua phòng thanh toán thay vì giao nhận hiện vật thực tế, do đó giao dịch giao ngay nhận hàng vật chất chỉ chiếm khoảng 5%.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đào Thị Thương đã giải quyết toàn diện các vấn đề lý luận cơ bản về thiết chế Sở giao dịch hàng hóa và các phương thức giao dịch hàng hóa phái sinh. Thông qua việc phân tích sâu sắc khung pháp lý cùng thực tiễn vận hành tại các thị trường phát triển như Mỹ, Singapore và Thái Lan, công trình đã đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cao cho Việt Nam. Trên cơ sở đối chiếu với thực trạng pháp lý của Luật Thương mại năm 2005, Nghị định số 158/2006/NĐ-CP và tiềm năng từ kim ngạch xuất khẩu nông sản chủ lực giai đoạn 2005 - 2007, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển Sở giao dịch hàng hóa tại Việt Nam.