Khóa luận: Quản lý công ty cổ phần theo luật Việt Nam - Thực trạng và Giải pháp

Quản lý công ty cổ phần hiệu quả: Thực trạng và giải pháp tối ưu. Tìm hiểu quy trình, luật lệ và cách vận hành doanh nghiệp cổ phần thành công.

Trường đại học

Đại học Ngoại Thương

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2023

41
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1. Giới thiệu chung về CTCP

1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của CTCP

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của CTCP

1.1.3. Đặc điểm của CTCP

1.1.4. Những ưu thế của CTCP

1.2. Tổng quan về quản lý CTCP theo quy định của Pháp Luật Việt Nam

1.2.1. Khái niệm quản lý CTCP

1.2.2. Đặc trưng của việc quản lý CTCP

1.2.3. Trọng tâm của quản lý CTCP

1.2.4. Nguồn luật điều chỉnh việc quản lý CTCP ở Việt Nam

1.2.4.1. Các văn bản luật và dưới luật do nước CHXHCN Việt Nam ban hành
1.2.4.2. Các Điều ước quốc tế

1.2.5. Khái quát chung về quản lý CTCP theo quy định của LDNVN 2005

1.2.5.1. Đại hội đồng cổ đông
1.2.5.2. Hội đồng quản trị
1.2.5.3. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
1.2.5.4. Ban Kiểm soát

1.2.6. Tham khảo mô hình quản lý CTCP theo quy định của một số nước trên thế giới

1.2.6.1. Mô hình quản lý CTCP của Nhật Bản
1.2.6.2. Mô hình quản lý CTCP của Đức
1.2.6.3. Mô hình quản lý CTCP ở Mỹ
1.2.6.4. Bình luận các mô hình quản lý CTCP trên thế giới và mối liên hệ của chúng tới mô hình quản lý CTCP ở Việt Nam

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cổ đông

2.1.1. Cổ đông sáng lập

2.1.2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về các quyền của cổ đông nói chung

2.1.2.1. Quyền dự họp ĐHĐCĐ
2.1.2.2. Quyền biểu quyết
2.1.2.3. Quyền bổ, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT và kiểm soát viên
2.1.2.4. Quyền tiếp cận thông tin
2.1.2.5. Quyền khởi kiện của cổ đông

2.1.3. Thực trạng bảo vệ các cổ đông thiểu số

2.1.4. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về nghĩa vụ của các cổ đông

2.2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cuộc họp ĐHĐCĐ

2.2.1. Về loại hình và thẩm quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ

2.2.2. Về việc triệu tập họp ĐHĐCĐ

2.2.3. Về chương trình và nội dung họp ĐHĐCĐ:

2.2.4. Về điều kiện tiến hành họp

2.2.5. Về việc thông qua quyết định của ĐHĐCĐ

2.3. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về HĐQT

2.3.1. Sự xác lập địa vị trung tâm của HĐQT trong cơ cấu quản lý CTCP

2.3.2. Tiêu chuẩn, số lượng thành viên HĐQT

2.3.3. Về quyền và nghĩa vụ của thành viên HĐQT

2.3.3.1. Về quyền của các thành viên HĐQT
2.3.3.2. Nghĩa vụ của các thành viên HĐQT
2.3.3.3. Trách nhiệm pháp lý của các thành viên HĐQT

2.3.4. Cuộc họp HĐQT

2.4. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về GĐ/TGĐ

2.4.1. Khái niệm, địa vị và trách nhiệm pháp lý của GĐ/TGĐ trong CTCP

2.4.2. Quyền và nhiệm vụ của GĐ/TGĐ

2.4.3. Sự phân nhiệm giữa TGĐ và Chủ tịch HĐQT

2.5. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về Ban Kiểm Soát

2.5.1. Địa vị pháp lý của BKS

2.5.2. Cơ chế bổ nhiệm thành viên BKS

2.5.3. Quyền và nhiệm vụ của BKS

2.6. Một số thực trạng khác trong quản lý CTCP hiện nay

2.6.1. Nhìn lại chế độ quản lý nội bộ của DNNN và ảnh hưởng của nó tới thực trạng quản lý các công ty cổ phần hóa từ DNNN

2.6.2. Thực trạng kiểm soát các giao dịch của công ty với các bên có liên quan

2.6.3. Thực trạng điều chỉnh các quy định pháp luật về thỏa thuận giữa các cổ đông với nhau và giữa cổ đông với công ty

3. CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN

3.1. Nhận xét chung về thực trạng quản lý CTCP tại Việt Nam hiện nay

3.1.1. Những thành công

3.1.2. Những khó khăn

3.1.3. Những yêu cầu về việc tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý CTCP

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý CTCP ở Việt Nam

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về cổ đông

3.2.1.1. Về quyền thành lập CTCP một cổ đông
3.2.1.2. Về quyền dự họp ĐHĐCĐ
3.2.1.3. Về quyền ưu đãi biểu quyết
3.2.1.4. Về quyền tiếp cận thông tin
3.2.1.5. Về quyền khởi kiện của cổ đông
3.2.1.6. Về cơ cấu cổ đông trong CTCP
3.2.1.7. Về việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số

3.2.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về cuộc họp ĐHĐCĐ

3.2.3. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về HĐQT

3.2.4. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về GĐ/TGĐ

3.2.5. Gải pháp hoàn thiện các quy định về việc minh bạch hóa các thỏa thuận giữa các cổ đông với nhau và giữa cổ đông với công ty

3.2.6. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về BKS

3.2.7. Giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý CTCP qua tham khảo mô hình quản lý CTCP của Nhật Bản

3.2.8. Một số giải pháp khác

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Quản lý Công ty Cổ phần Tổng Quan Khái Niệm Cốt Lõi

Quản lý công ty cổ phần (CTCP) là một lĩnh vực phức tạp, bao gồm nhiều khía cạnh pháp lý, tài chính và quản trị. Hiểu rõ khái niệm CTCP và các yếu tố quản lý là điều kiện tiên quyết để đảm bảo hoạt động hiệu quả và bền vững của doanh nghiệp. CTCP là một loại hình doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần. Cổ đông, những người sở hữu cổ phần, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp. CTCP có quyền phát hành chứng khoán để huy động vốn và có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Theo LDNVN 2005, quản lý CTCP là phương thức tổ chức các cơ quan quyền lực của công ty bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc, Ban kiểm soát và mối quan hệ quyền lực giữa các cơ quan đó.

1.1. Quá trình hình thành và phát triển của CTCP tại Việt Nam

CTCP tại Việt Nam ra đời muộn hơn so với thế giới, đánh dấu bằng Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990. LDN năm 1999 và đặc biệt là LDN năm 2005 đã tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này. Số lượng CTCP liên tục tăng từ năm 2000, thể hiện vai trò quan trọng của CTCP trong nền kinh tế. LDN 2005 thống nhất áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp, không phân biệt sở hữu, góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hóa DNNN. Quá trình này gắn liền với sự thừa nhận nền kinh tế thị trường, thể hiện sự thay đổi trong tư duy lãnh đạo kinh tế của Đảng và Nhà nước. Khái niệm CTCP được định nghĩa rõ ràng trong LDN 2005, với các đặc điểm như vốn điều lệ chia thành cổ phần, số lượng cổ đông tối thiểu là ba, và trách nhiệm hữu hạn của cổ đông.

1.2. Đặc điểm và ưu thế vượt trội của hình thức CTCP

CTCP có nhiều đặc điểm nổi bật, như số lượng thành viên linh hoạt, hình thức góp vốn đa dạng, khả năng huy động vốn lớn, và chuyển nhượng vốn dễ dàng. Những ưu thế này bao gồm tư cách pháp nhân độc lập, trách nhiệm hữu hạn của cổ đông, và khả năng huy động vốn linh hoạt thông qua phát hành chứng khoán. CTCP có cơ chế quản lý tập trung, minh bạch, với sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quản lý. Tính ổn định trong hoạt động kinh doanh và không hạn chế về thời gian tồn tại là những yếu tố thu hút nhà đầu tư. So với các loại hình doanh nghiệp khác, CTCP có nhiều ưu điểm hơn, khắc phục được những hạn chế của loại hình công ty đối nhân và CTTNHH, phù hợp với nền kinh tế thị trường. Vấn đề quản lý CTCP ngày càng được quan tâm để đảm bảo quyền lợi của cổ đông và sự phát triển bền vững của công ty.

II. Thực Trạng Quản Lý CTCP tại Việt Nam Vấn Đề Nhức Nhối

Thực trạng quản lý CTCP tại Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều vấn đề, đặc biệt liên quan đến quyền lợi của cổ đông, hoạt động của ĐHĐCĐ, và vai trò của HĐQT, TGĐ/GĐ, BKS. Tình trạng cổ đông sáng lập không góp đủ vốn, hạn chế quyền của cổ đông thiểu số, và thiếu minh bạch trong các giao dịch là những thách thức lớn. Các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp sự phát triển của thị trường, dẫn đến nhiều kẽ hở và tranh chấp. Việc kiểm soát các giao dịch với bên liên quan còn lỏng lẻo, tạo điều kiện cho hành vi trục lợi, gây thiệt hại cho công ty và cổ đông. Cần có những giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả quản lý CTCP, bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

2.1. Các vấn đề điều chỉnh pháp luật về cổ đông và cổ đông sáng lập

Các quy định về cổ đông sáng lập còn nhiều bất cập, đặc biệt là về nghĩa vụ góp vốn. Tình trạng vốn điều lệ khai báo cao hơn vốn thực góp là khá phổ biến, gây ra sự nhầm lẫn về sở hữu và cơ cấu sở hữu công ty. Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông, khả năng huy động vốn, và gây nhầm lẫn cho các bên thứ ba. Sự xuất hiện của CTCP một cổ đông trên thực tế đặt ra câu hỏi về tính hiệu quả của quy định số lượng cổ đông tối thiểu. Hạn chế quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư. Cần xem xét thừa nhận chính thức hình thức CTCP một cổ đông. Việc quy định CTCP bị giải thể khi không còn đủ số lượng cổ đông tối thiểu trong thời hạn sáu tháng liên tục cũng có thể làm hạn chế quyền tự do kinh doanh hợp pháp của nhà đầu tư. Cần có những giải pháp để đảm bảo quyền lợi của cổ đông, khắc phục tình trạng lách luật, và tạo điều kiện cho sự phát triển của CTCP.

2.2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông nói chung

Quyền cổ đông bao gồm cả quyền tinh thần (dự họp ĐHĐCĐ, biểu quyết,...) và quyền tài sản (nhận cổ tức, chuyển nhượng cổ phần,...). LDNVN 2005 có những quy định cụ thể về các loại cổ đông và quyền và nghĩa vụ tương ứng. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực thi các quyền này còn gặp nhiều khó khăn. Quyền tiếp cận thông tin của cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số, thường bị hạn chế. Quyền biểu quyết có thể bị chi phối bởi cổ đông lớn. Các quy định về bảo vệ cổ đông thiểu số còn chưa đủ mạnh. Điều này dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trong công ty, gây ra mâu thuẫn và tranh chấp. Việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông là yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư và đảm bảo sự phát triển bền vững của CTCP.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Quản Lý CTCP Hướng Đến Minh Bạch

Để giải quyết các vấn đề tồn tại trong quản lý CTCP tại Việt Nam, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện, tập trung vào hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực quản trị của doanh nghiệp, và tăng cường vai trò giám sát của các cơ quan chức năng. Cần có những quy định rõ ràng hơn về vốn điều lệ, bảo vệ quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số, và tăng cường tính minh bạch trong hoạt động của CTCP. Cần có cơ chế kiểm soát hiệu quả các giao dịch với bên liên quan, ngăn chặn hành vi trục lợi. Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức của các cổ đông, thành viên HĐQT, TGĐ/GĐ, BKS về vai trò, quyền và nghĩa vụ của mình. Cần tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong việc giám sát hoạt động của CTCP.

3.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định về Cổ Đông Vốn Điều Lệ

Cần sửa đổi Luật Doanh nghiệp để làm rõ khái niệm vốn điều lệ, tránh nhầm lẫn với vốn được quyền phát hành. Quy định rõ nghĩa vụ góp vốn của cổ đông, đặc biệt là cổ đông sáng lập. Cần có chế tài xử lý nghiêm các trường hợp không góp đủ vốn. Xem xét thừa nhận chính thức hình thức CTCP một cổ đông, đồng thời quy định rõ quyền và nghĩa vụ của cổ đông duy nhất. Cần tạo điều kiện thuận lợi cho cổ đông tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin về hoạt động tài chính và các giao dịch với bên liên quan. Các quy định về bảo vệ cổ đông thiểu số cần được tăng cường, đảm bảo quyền biểu quyết, quyền khởi kiện, và quyền tham gia vào quá trình quản lý công ty.

3.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động của ĐHĐCĐ và HĐQT

Cần có những quy định chặt chẽ hơn về triệu tập và tổ chức họp ĐHĐCĐ, đảm bảo sự tham gia đầy đủ của các cổ đông. Cần tăng cường tính minh bạch trong quá trình biểu quyết, tránh tình trạng chi phối bởi cổ đông lớn. Cần có quy định về trách nhiệm của HĐQT trong việc quản lý và điều hành công ty, đảm bảo lợi ích của tất cả các cổ đông. Cần có cơ chế giám sát hiệu quả hoạt động của HĐQT, ngăn chặn hành vi lạm quyền và trục lợi. Cần nâng cao năng lực và trình độ của các thành viên HĐQT, đảm bảo họ có đủ kiến thức và kinh nghiệm để quản lý công ty hiệu quả.

IV. Vai Trò của BKS và TGĐ GĐ Tăng Cường Giám Sát Trách Nhiệm

Ban Kiểm soát (BKS) đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát hoạt động của HĐQT và TGĐ/GĐ, đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ pháp luật của công ty. Tuy nhiên, trên thực tế, vai trò của BKS còn mờ nhạt, thiếu quyền lực và độc lập. Cần có những giải pháp để tăng cường vai trò của BKS, đảm bảo họ có đủ quyền hạn và nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ của mình. TGĐ/GĐ là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty, chịu trách nhiệm trước HĐQT và pháp luật. Cần có quy định rõ về trách nhiệm của TGĐ/GĐ, đảm bảo họ điều hành công ty hiệu quả và tuân thủ pháp luật.

4.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Kiểm Soát

Cần quy định rõ tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên BKS, đảm bảo họ có đủ trình độ và kinh nghiệm. Cần tăng cường tính độc lập của BKS, tránh tình trạng bị chi phối bởi HĐQT. Cần trao cho BKS quyền hạn đầy đủ để tiếp cận thông tin, kiểm tra sổ sách, và giám sát hoạt động của HĐQT và TGĐ/GĐ. Cần có cơ chế bảo vệ thành viên BKS khỏi bị trả thù hoặc trù dập. Cần nâng cao năng lực và trình độ của các thành viên BKS, đảm bảo họ có đủ kiến thức và kỹ năng để thực hiện nhiệm vụ của mình.

4.2. Nâng cao trách nhiệm của TGĐ GĐ và kiểm soát giao dịch liên kết

Cần có quy định rõ về trách nhiệm của TGĐ/GĐ trong việc quản lý và điều hành công ty, đảm bảo lợi ích của tất cả các cổ đông. Cần có cơ chế kiểm soát hiệu quả các giao dịch với bên liên quan, ngăn chặn hành vi trục lợi. Cần có quy định về công khai thông tin về các giao dịch này, đảm bảo tính minh bạch. Cần có chế tài xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về giao dịch với bên liên quan. Cần nâng cao nhận thức của TGĐ/GĐ về trách nhiệm của mình đối với công ty và các cổ đông.

V. Kinh Nghiệm Quốc Tế Áp Dụng Mô Hình Quản Lý CTCP Hiệu Quả

Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong quản lý CTCP là rất quan trọng. Các mô hình quản lý CTCP của Nhật Bản, Đức, và Mỹ có những ưu điểm riêng. Cần nghiên cứu và lựa chọn những yếu tố phù hợp với điều kiện của Việt Nam để áp dụng. Đặc biệt, cần chú trọng đến việc tăng cường vai trò của BKS, nâng cao tính độc lập của HĐQT, và đảm bảo quyền lợi của cổ đông thiểu số. Việc áp dụng kinh nghiệm quốc tế cần đi đôi với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực quản trị của doanh nghiệp.

5.1. Phân tích so sánh các mô hình quản lý CTCP trên thế giới

Mô hình quản lý CTCP của Nhật Bản tập trung vào vai trò của BKS và HĐQT, với sự tham gia của các cổ đông lớn. Mô hình của Đức có cơ cấu hai lớp, với BKS giám sát HĐQT. Mô hình của Mỹ có cơ cấu đơn lớp, với HĐQT tập trung quyền lực. Mỗi mô hình có những ưu điểm và nhược điểm riêng, phù hợp với điều kiện kinh tế và văn hóa khác nhau. Cần nghiên cứu kỹ lưỡng các mô hình này để lựa chọn những yếu tố phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

5.2. Bài học và ứng dụng cho Việt Nam Tối ưu quản trị

Từ kinh nghiệm quốc tế, có thể rút ra những bài học quan trọng cho Việt Nam. Cần tăng cường vai trò của BKS, đảm bảo tính độc lập và quyền hạn của họ. Cần nâng cao tính độc lập của HĐQT, tránh tình trạng chi phối bởi cổ đông lớn. Cần đảm bảo quyền lợi của cổ đông thiểu số, tạo điều kiện cho họ tham gia vào quá trình quản lý công ty. Cần tăng cường tính minh bạch trong hoạt động của CTCP, đảm bảo thông tin được công khai và dễ dàng tiếp cận. Việc áp dụng kinh nghiệm quốc tế cần đi đôi với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực quản trị của doanh nghiệp.

VI. Tương Lai Quản Lý CTCP Hướng Đến Phát Triển Bền Vững

Tương lai của quản lý CTCP tại Việt Nam phụ thuộc vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực quản trị của doanh nghiệp, và tăng cường vai trò giám sát của các cơ quan chức năng. Cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện để tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng, và hiệu quả. Việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông, tăng cường tính minh bạch, và nâng cao năng lực quản trị là những yếu tố then chốt để thúc đẩy sự phát triển bền vững của CTCP.

6.1. Xu hướng phát triển và tác động đến quản lý CTCP

Xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, và sự phát triển của công nghệ sẽ tác động mạnh mẽ đến quản lý CTCP. Cần có những giải pháp để thích ứng với những thay đổi này, đảm bảo CTCP Việt Nam có thể cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế. Cần chú trọng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tăng cường tính minh bạch và hiệu quả.

6.2. Các kiến nghị và định hướng phát triển hệ thống quản lý CTCP

Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về CTCP, đảm bảo tính đồng bộ, minh bạch, và khả thi. Cần nâng cao năng lực quản trị của doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNN sau cổ phần hóa. Cần tăng cường vai trò giám sát của các cơ quan chức năng, đảm bảo tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Cần khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong việc giám sát hoạt động của CTCP. Cần tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, khuyến khích đầu tư và phát triển CTCP.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN I. Giới thiệu chung về CTCP 1. Quá trình hình thành và phát triển của CTCP Trên thế giới, CTCP đã ra đời và phát triển từ rất sớm, góp phần quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Một số học giả cho rằng, Công ty Đông Ấn Anh Quốc thành lập ngày 31/10/1600 và Công ty Đông Ấn Hà Lan là tổ tiên của CTCP hiện đại.

Theo khảo cứu, Pháp là quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận CTCP về mặt pháp lý. Chế độ CTCP được quy định trong Bộ Luật Thương mại Pháp năm 1807 (Bộ Luật Napoleon), theo đó CTCP tồn tại dưới loại hình société en commandite par actions (Công ty giao vốn), cho phép những người không tham gia vào việc quản lý công ty được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn. Ở Mỹ, CTCP cũng ra đời từ sớm và phát triển rất mạnh. Lúc đầu là để phục vụ cho việc xây dựng đường sắt, sau là để thiết lập mạng lưới phân phối và bán lẻ trên toàn lãnh thổ Mỹ.

Chính từ yêu cầu tài trợ cho các công ty xây dựng đường sắt mà thị trường chứng khoán ở New York đã phát triển. Năm 1811, bang New York đã ban hành luật về tính trách nhiệm hữu hạn dành cho các công ty sản xuất. Nhờ có luật này, tiền ùn ùn đổ về New York và tính hữu hạn đó trở thành phổ biến bởi vì bang nào không dùng đến nó thì không thu hút được vốn. Từ sự phát triển kinh tế của Mỹ, các nước Châu Âu thấy cần phải đuổi theo; vì vậy, họ đã giảm bớt sự kiểm soát đối với các công ty.

Tại Anh, Luật CTCP được ban hành vào năm 1844, theo đó các CTCP muốn được thành lập không phải xin phép mà chỉ cần đăng ký. Quy định này đã tạo động lực mạnh mẽ cho các CTCP ở Anh phát triển, góp phần đáng kể đưa nước Anh trong thời kỳ đó trở thành bá chủ về hàng hải và là một cường quốc trên thế giới. Trải qua hàng trăm năm phát triển, cho đến nay, cùng với quá trình toàn cầu hóa, hình thức CTCP đã có sức bật mới với sự xuất hiện của các loại hình CTCP “đa quốc gia”, “xuyên quốc gia” có tầm hoạt động rộng lớn và khả năng cạnh tranh cao. Ở Việt Nam, so với các nước trên thế giới, loại hình CTCP ra đời muộn và chậm phát triển hơn.

Cột mốc đánh dấu sự ra đời của CTCP ở Việt Nam là vào ngày Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT 4 Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp 21/12/1990 khi Quốc hội khóa VIII thông qua hai đạo luật quan trọng là: Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân. Việc ban hành hai đạo luật này đã đặt cơ sở pháp lý cho việc hình thành và phát triển hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam như: CTCP, CTTNHH, DNTN. Tuy nhiên, sau gần mười năm thực hiện, nhiều nội dung của hai đạo luật trên đã tỏ ra bất cập, không đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh hoạt động của các loại hình doanh nghiệp nên rất cần phải sửa đổi bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới. Đáp ứng nhu cầu đó, trên cơ sở hợp nhất có sửa đổi, bổ sung Luật Công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật Doanh Nghiệp Việt Nam (LDNVN) năm 1999 đã ra đời và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000.

LDN năm 2000 là nền tảng quan trọng nhất cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đặc biệt là sự phát triển của CTCP tại Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), từ đầu năm 2000 đến hết năm 2006, số lượng các CTCP ở Việt Nam đã liên tục tăng lên, tăng từ khoảng 7% tổng số các doanh nghiệp thành lập năm 2000 lên trên 20% năm 2006. Vào năm 2005-2006 dưới áp lực và nhu cầu mạnh mẽ của việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, hàng loạt các luật có liên quan phải ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung; trong đó có các luật về đầu tư và doanh nghiệp. LDN 2005 đã ra đời trong hoàn cảnh đó, nó thay thế cho LDN 2000, Luật DNNN năm 2003, các quy định về doanh nghiệp của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006.

Kể từ khi LDN 2005 có hiệu lực, lần đầu tiên chúng ta có một LDN duy nhất, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp, không phân biệt tính chất sở hữu, người trong nước cũng như người nước ngoài có quyền tự chủ lựa chọn bất kỳ loại hình nào trong bốn loại hình doanh nghiệp do luật quy định (bao gồm: DNTN, công ty hợp danh, CTTNHH và CTCP). Ngoài ra, LDN 2005 đã xác định thời hạn bốn năm kể từ khi Luật này có hiệu lực để các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành CTTNHH hay CTCP nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT 5 Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp Như vậy, cùng với các loại hình doanh nghiệp khác, CTCP ở Việt Nam ra đời khá muộn so với các nước trên thế giới, được hình thành và phát triển cùng với sự thừa nhận nền kinh tế thị trường có điều tiết, thể hiện sự thay đổi sâu sắc trong tư duy lãnh đạo kinh tế của Đảng và Nhà nước ta. Khái niệm và đặc điểm của CTCP 2.

Khái niệm CTCP là một trong bốn loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay cho nên để tìm hiểu khái niệm CTCP trước tiên cần tìm hiểu khái niệm và đặc điểm của một doanh nghiệp nói chung. Theo khoản 1 Điều 4 LDN 2005, Doanh nghiệp được định nghĩa là “tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy, một doanh nghiệp nói chung có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau đây: · Thứ nhất, là tổ chức kinh tế, có tư cách chủ thể pháp lý độc lập; · Thứ hai, được xác lập tư cách (thành lập và đăng ký kinh doanh) theo thủ tục do pháp luật quy định; · Thứ ba, có nghề nghiệp kinh doanh. Do CTCP là một trong bốn loại hình doanh nghiệp theo LDN 2005 nên ngoài mang các đặc điểm nói chung của một doanh nghiệp thì trên cơ sở các dấu hiệu đặc trưng về số lượng thành viên, cơ cấu góp vốn, trách nhiệm pháp lý của cổ đông, tư cách pháp nhân của công ty, việc chuyển nhượng vốn và phát hành chứng khoán, CTCP theo điều 77 LDN 2005 còn được định nghĩa như sau: “CTCP là doanh nghiệp, trong đó: - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; - Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT 6 Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp - Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp đối với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác và hạn chế quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông trong thời hạn 3 năm kể từ ngày CTCP được cấp GCNĐKKD đối với các cổ đông sáng lập theo quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của LDN 2005; - Có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh - Có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn”.

Đặc điểm của CTCP Thứ nhất, về số lượng thành viên: Hầu hết pháp luật các nước đều quy định số lượng thành viên tối thiểu mà không giới hạn số lượng tối đa đối với CTCP. Ở nước ta, Luật Công ty năm 1990 quy định số lượng thành viên tối thiểu trong suốt quá trình hoạt động của CTCP là 7 và theo LDN năm 1999 và LDN năm 2005 thì số lượng này là 3. Đặc điểm này thể hiện đặc trưng cơ bản của CTCP là loại hình công ty đối vốn nên có sự liên kết của nhiều thành viên tham gia góp vốn vào CTCP. Thứ hai, về hình thức góp vốn: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.

Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu, người mua cổ phiếu gọi là cổ đông, lợi nhuận có được hàng năm từ cổ phần gọi là cổ tức. Việc góp vốn vào CTCP được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu, mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu. Đăc điểm này cũng thể hiện đặc trưng cơ bản của CTCP là loại hình công ty đối vốn, nghĩa là khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động, các thành viên công ty hoàn toàn không quan tâm đến nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp của họ. Bởi vì đối với loại hình công ty này tư cách thành viên công ty và các quyền của cổ đông trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty được quyết định trước hết bởi số lượng các cổ phiếu của công ty mà người đó nắm giữ.

Thứ ba, về huy động vốn: Trong quá trình hoạt động của mình, CTCP được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn theo qui định của pháp luật về phát hành chứng khoán. Luật Công ty năm 1990, LDN năm 1999 và LDN năm 2005 đều qui định rõ: đối với CTTNHH khi muốn tăng vốn điều lệ của Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT 7 Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ