Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Cơ sở lý luận về giải quyết tranh chấp nhãn hiệu. Thực trạng pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp nhãn hiệu.
Định hƣớng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay. 6 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tiền đề đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tiền đề thứ nhất Luật bảo hộ nhãn hiệu bắt nguồn từ luật chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh [32, tr.
93] và bảo vệ ngƣời tiêu dùng. Dù đƣợc tách khỏi luật cạnh tranh, luật về nhãn hiệu vẫn mang tính chất của luật thƣơng mại và chứa đựng cả những yếu tố của dân sự. Vì vậy, tiền đề đầu tiên để đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu là: Các tranh chấp nhãn hiệu chủ yếu mang đặc tính của tranh chấp kinh doanh - thƣơng mại. Từ tiền đề này dẫn tới các hệ quả sau liên quan tới đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án: (1) Tập trung xem xét và đánh giá các công trình đã công bố về giải quyết tranh chấp nhãn hiệu dƣới góc độ kinh doanh - thƣơng mại; và (2) nhận định các kết quả nghiên cứu nghiêng về giác độ kinh doanh - thƣơng mại.
Tiền đề thứ hai Các cơ chế giải quyết tranh chấp bởi nhà nƣớc thƣờng gắn với một hệ thống pháp luật cụ thể của một quốc gia. Các hệ thống pháp luật của các nƣớc, cho dù trong cùng một họ pháp luật và đều là thành viên của một điều ƣớc quốc tế, vẫn có những điểm khác biệt do những đặc điểm lịch sử - chính trị - văn hóa - xã hội khác nhau. Do đó, các phƣơng thức giải quyết tranh chấp của mỗi quốc gia không hoàn toàn đồng nhất. Việc xác định các phƣơng thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án cũng bị lệ thuộc vào hệ thống pháp luật quốc gia.
Chẳng hạn ở Việt Nam không có hình thức giải quyết tranh chấp bằng bồi thẩm đoàn giản lƣợc nhƣ ở Hoa Kỳ bởi quốc gia này áp dụng mô hình tố tụng tranh tụng của 7 z common law. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài luận án đƣợc xuất phát từ tiền đề thứ hai: Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp nhãn hiệu của mỗi quốc gia có sự khác biệt bởi sự lệ thuộc vào hệ thống pháp luật đặc thù của từng quốc gia đó. Tiền đề này dẫn tới các hệ quả liên quan tới đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án nhƣ sau: (1) Suy xét các kết quả nghiên cứu của các công trình ở nƣớc ngoài đã đƣợc công bố để tìm ra những thành tựu có khả năng áp dụng, phù hợp với điều kiện Việt Nam; (2) Đánh giá các công trình trong nƣớc từ tính hệ thống của pháp luật; và (3) Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật từ các đánh giá trên. Tiền đề thứ ba Việc bảo vệ cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động thƣơng mại và bảo vệ ngƣời tiêu dùng là vấn đề quan tâm của hầu hết các nƣớc trên thế giới.
Vì vậy, các quốc gia đã nỗ lực thiết lập những tiêu chuẩn pháp lý chung cho toàn thế giới để đảm bảo sự công bằng và chuẩn mực chung. Phƣơng thức giải quyết tranh chấp nhãn hiệu mặc dù mang tính lệ thuộc vào hệ thống pháp luật quốc gia nhƣng không thể tách bạch hẳn với thế giới mà phải chịu sự ảnh hƣởng của các luật lệ quốc tế. Vì vậy, tiền đề thứ ba là: Việc thiết lập các phƣơng thức giải quyết tranh chấp nhãn hiệu của mỗi quốc gia không thể xa rời nhận thức chung của thế giới về vấn đề này. Từ đó có các hệ quả sau liên quan tới đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án: (1) Đánh giá các công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố dựa trên nhận thức chung và chuẩn mực chung có tính chất toàn cầu; và (2) tập trung đánh giá các diễn giải, điều ƣớc quốc tế liên quan tới nhãn hiệu trong các công trình nghiên cứu phục vụ cho việc thiết lập phƣơng thức giải quyết tranh chấp nhãn hiệu.
Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc 1. Khái quát về tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, trƣớc khi BLDS năm 1995 ra đời, do các yếu tố về lịch sử, xã hội và kinh tế, vai trò của pháp luật bảo hộ quyền SHTT chƣa thực sự đƣợc chú trọng, sự quan tâm của xã hội đối với lĩnh vực này rất hạn chế. Khoảng một thập kỷ trở lại đây, bắt đầu xuất hiện ngày một nhiều hơn công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí đề cập đến các khía cạnh của bảo hộ quyền SHTT nói chung và quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng. Có thể kể tới một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu nhƣ sau: (1) Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ trên thế giới và phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 của TS.
Nguyễn Thị Quế Anh; (2) Quyền Sở hữu trí tuệ (Tái bản lần thứ nhất bổ sung, sửa đổi theo LSHTT 2005), Nxb. Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006 của Lê Nết; (3) Những vấn đề pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án tiến sĩ luật học của Lê Mai Thanh bảo vệ tại Viện Nhà nƣớc và Pháp luật, Hà Nội năm 2006; (4) Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn thương mại trong điều kiện hội nhập quốc tế, Đề tài nghiên cứu khoa học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014 do TS. Nguyễn Thị Quế Anh chủ trì. Bên cạnh đó, các vấn đề giải quyết tranh chấp thƣơng mại nói chung và tranh chấp nhãn hiệu nói riêng cũng thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Các tác phẩm sau đã cung cấp những thông tin, kiến thức quý báu về cơ sở lý luận và thực tiễn của giải quyết tranh chấp nhãn hiệu: (1) Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp đối với các quan hệ thương mại trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, Luận án tiến sĩ luật học, 9 z Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, 2012 của Dƣơng Quỳnh Hoa; Xử lý xâm phạm nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, 2015 của Nguyễn Xuân Quang; (3) Cách thức nào để giải quyết tranh chấp giữa tên miền và nhãn hiệu hàng hoá theo pháp luật Việt Nam?, Bản tin hàng tháng của Phòng pháp chế - Đoàn Luật sƣ Quốc tế/ Khu vực Châu Á Thái Bình Dƣơng, 03-10-2011 của Hồ Tƣờng Vy; (4) Xử lý tranh chấp tên miền: Cần một cơ chế thống nhất và hiệu quả, Bản tin của Hội SHTT Việt Nam, Số 70, 71 tháng 10 và 11 của Nguyễn Việt Sơn; (5) Một số vấn đề về giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ theo thủ tục tố tụng dân sự, Tạp chí Luật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Số đặc san về Bộ luật tố tụng dân sự 2005 của Nguyễn Nhƣ Quỳnh; (6) Xung đột quyền trong bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại, Tạp chí Khoa học pháp lý, Trƣờng Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, số 3/2013 của Lê Thị Nam Giang; (7) Cơ chế giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ của Nhật Bản: Gợi mở đối với Việt Nam, Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật, Viện Nhà nƣớc và pháp luật, số 3/2015 của Đỗ Thị Minh Thủy. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu Sẽ là không cần thiết nếu nhƣ trong khuôn khổ của luận án, ngƣời viết trình bày nội dung của tất cả các công trình có liên quan đến đề tài. Tác giả chỉ chọn lọc một số tác phẩm tiêu biểu nhất nhằm mục tiêu mang lại cái nhìn tổng thể về giải quyết tranh chấp SHTT nói chung và tranh chấp nhãn hiệu nói riêng. Công trình nghiên cứu về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu * “Quyền Sở hữu trí tuệ” của học giả Lê Nết tái bản lần thứ nhất tại Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2006 được bổ sung, sửa đổi theo LSHTT 2005.
10 z Công trình này đề cập tới hầu hết các vấn đề của SHTT, trong đó có nhãn hiệu. Đặc biệt, công trình viết về khía cạnh triết học của SHTT và đánh giá các quan điểm triết học này từ đặc điểm, vai trò của SHTT trong thời đại ngày nay. Nhìn SHTT dƣới giác độ triết học, tác giả cho thấy pháp luật về quyền SHTT không chỉ có mục đích bảo hộ “trí thức” mà còn đóng vai trò tạo ra môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh. Tác giả nhấn mạnh đối với tài sản vô hình (một loại sở hữu theo luật định), việc hạn chế quyền sở hữu để khỏi gây ra những khía cạnh bất lợi cho xã hội là điều không thể tránh khỏi [32, tr.
Phân tích mối quan hệ giữa kinh tế và quyền SHTT theo quan điểm của những nhà kinh tế - luật, tác giả Lê Nết đặt ra hai câu hỏi trái ngƣợc là: khi nào SHTT trở thành vật cản, và khi nào trở thành động lực của sự năng động, sáng tạo? Lê Nết đã đi đến kết luận cân bằng giữa bảo hộ và cạnh tranh là chủ đề chính của vòng đàm phán Doha về SHTT [32, tr. Đây có thể là tìm tòi quan trọng nhất về SHTT ở Việt Nam trong những năm vừa qua. Đó chính là nền tảng lý luận quan trọng cho việc thiết lập chế độ bảo hộ đối với SHTT. Tiếp theo các kết quả nghiên cứu này, tác giả Lê Nết đã trình bày các vấn đề học thuật và thực tiễn lần lƣợt theo mô hình của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) trong cuốn WIPO Intellectual Property Handbook: Policy, Law and Use, Second Edition, WIPO Publication, 2004.
Nhiều tình huống tranh chấp cụ thể về SHTT nói chung và nhãn hiệu nói riêng đƣợc tác giả đề cập và luận giải theo các luận điểm triết học và kinh tế.