mở đầu bài giảng và neo chốt kiến thức IV. Kỹ năng lắng nghe, nhận xét, đặt câu hỏi, công não V. Kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học VI. Kỹ năng coi thi, chấm thi VII.
Kỹ năng quan sát, tác phong của giảng viên ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN LÀM BÀI GIỚI THUYẾT VỀ XU THẾ GIÁO DỤC • HIỆN • ĐẠI • Xu thế là chiều hướng phát triển đ i lên của sự vật, hiện tượng, là sự thay đổ i so những gì đã có. Qúa trình dạy học cũng không dĩ thành bất biến mà luôn luôn vận động đi lên, đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của thời đại. Trong xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, quá trình dạy học cũng được nhìn nhận lại. Vị thế của người thầy và người học cũng vì thế mà thay đổi theo.
Cả người thầy và người học đều là chủ thể của quá trình dạy học (trước đây người học được quan niệm là khách thể chịu sự tác động). Người học hiện nay là trung tâm của của trình dạy học, còn người thầy là người điều khiển, tổ chức, hướng dẫn quá trình học tập của học sinh, sinh viên. Có thể đề cập đến một s ố xu thế dạ y học, giáo dục hiện đại như sau: 1) Giáo dục dân chủ (Democratic education) G iáo dục dân chủ là nền giáo dục phát huy đầ y đủ tất cả các quyền và trách nhiệm của học sinh, sinh viên như một công dân dân chủ. Các em được tự do ngôn luận, tự do hội họp, và tự do chọn hoạt động cho chính mình; các em được bầu chọn những luật lệ mà trực tiếp ảnh hưởng đến mình và tuân thủ, tôn trọng luật lệ đó.
Thông qua xu thế dân chủ trong giáo dục, vị thế của học sinh, sinh viên được nâng lên, không bị chi phối bởi vị thế người thầy. Người thầy không còn là người áp đặt tri thức, kinh nghiệm cho người học. Quá trình dạy học không còn là qúa trình người thầy “rót cho đầy bình nước” còn người học tiếp nhận được đến đâu thì mặc kệ. Học sinh, sinh viên, học viên có mọi sự quyết định trong hoạt động học tập của mình, họ đưa ra nguyên tắc và cùng nhau thực hiện nguyên tắc đó.
Vai trò của người thầy vẫn rất to lớn nhưng hầu như không hiện hữu, họ dạy mà lại như không dạy khiến cho quá trình giáo dục diễn ra hết sức tự nhiên, thoải mái. Tất nhiên, giáo dục dân chủ vừa có ưu điể m lạ i vừa có nhược điểm của nó. Nhược điểm là: kiến thức của các em sẽ bị lệch lạc trong biển kiến thức của thế giới vì các em không được định hướng bởi người thầy là người đã có nhiều kinh nghiệm trong giáo dục; tinh thần nhân văn “tôn sư trọng đạo” có nguy cơ bị mai một. Ưu điểm là: nâng cao vị thế của học sinh,sinh viên; rèn luyện khả năng sáng tạo, chuẩn bị hoạt động độc lập trong cuộc sống sau này của các e m .V ấ n đề ỏ đây là người thày phải biết dung hòa, cân bằng vị thế trong quá trình dạy học.
2) Giáo dục phi trường học (unschooling) Trong dạy học truyền thống, người học trở nên thụ động như đang bị lập trình sẵn, các em phải hành động theo khuôn mẫu đã được quy định trước; các em không có hoặc ít có cơ hội được tự do tương tác với môi trường tự nhiên bên ngoài nhà trường. Điều đó làm cho các em trở vô thức với tự nhiên. Trong daỵ học hiện đại, điều này lại ngược lại. Đó là giáo dục phi trường học.
Giáo dục phi trường học không có nghĩa là giáo dục không có trường lớp. Trường lớp vẫn hiện diện song đã đóng một vai trò khác. Phi trường học là mô hình học tập trong đó người học không bị ràng buộc trong khuôn khổ những quy định bởi hệ thống trường lớp, không bị tác động bởi các phương tiện học tập. Người học được thỏa sức khám phá thế giới tự nhiên bên ngoài với nhiều hoạt động như vui chơi, du lịch, thực hành, làm việc, quan tâm cá n h â n .H o ạ t động ngoại khóa, tham quan, dã ngoại.
được tăng cường, thay đổi tỷ trọng so với ngồi học trong lớp. Trong giáo dục phi trường học, vị thế bị áp đặt của học sinh đã thay đổi. Nó nâng cao vai trò của học sinh trong hoạt động học tập, cá tính của học sinh được “cởi trói”. Học sinh được tiếp cận tri thức một cách trực tiếp thông qua thực tế mà không bị điều khiển bởi người thầy, phương tiện dạy học và nội quy của nhà trường.
Giáo dục phi trường học cũng có một số nhược điểm như: kinh phí tổ chức học tập cho học sinh, sinh viên tốn kém hơn so với học tập theo kiểu truyền thống, tự do thái quá có thể xảy ra, tình trạng vô kỷ luật xuất h iệ n .T u y nhiên đây vẫn là một xu hướng giáo dục nhiều ưu điểm như đã nói trên đây, nếu chúng ta biết kết hợp với dạy học theo kiểu truyền thống thì sẽ nâng cao chất lượng học tập. 3) Dạy học tương tác T ương tác là sự tác động qua lại lẫn nhau, làm cho nhau biến đổi, làm cho trạng thái cũ mất đi thay bằng một trạng thái mới. Trong dạy học đó là sự tương tác giữa thầy và trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học. Trong dạ y học tương tác, giáo viên có thể tác động đến học sinh, sinh viên bằng trí tuệ của mình, bằng các phương pháp, kỹ năng dạy học thậm chí bằng trang phục, cử chỉ, điệu bộ, nụ cười, ánh m ắt.
Phương pháp dạy học truyền thống là đọc chép, thuyết trình tuy cũng tác động tới người học song đã bộc lộ rất nhiều hạn chế và khó phát huy được hiệu ứng tương tác, đồng nghĩa với việc người học chán học và chất lượng giáo dục không cao. Trong dạy học tương tác, người học không chỉ tiếp thu một chiều, mà còn tham gia chia sẻ ý kiến của mình với thầy và các bạn khác trong lớp; hơn thế nữa, họ còn chủ động tác động vào phương tiện dạy học để thỏa mãn nhu cầu học hỏi của mình. Họ cũng tác động trở lại người dạy như làm cho người dạy thay đổi phương pháp, điều chỉnh nhịp độ, dừng lại để trả lời câu hỏi, thay đổi không khí lớp học. Đây chính là quá trình “điều khiển lẫn nhau” cân bằng vị thế của người dạy và người học.
4) Giáo dục lấy người học làm trung tâm Thực ra những xu hướng dạy học trên đây đã cho thấy việc lấy người học làm trung tâm. Song chúng ta cần bàn kỹ hơn vấn đề này. Nếu như trước đây, người thầy được coi là trung tâm của quá trình giáo dục, thì giờ đây người học là tâm điểm. Người thầy chỉ đóng vai trò đặt ra tình huống có vấn đề và hướng dẫn người học giải quyết vấn đề đó; người thầy chỉ khơi gợi kiến thức còn người học chủ động tìm kiến chân lý khoa học cho mình.
Kiến thức của các em không bị phụ thuộc vào người thầy, và cũng không bị chi phối bởi người thầy. Với xu hướng này, người ta cho rằng: “Toàn bộ quá trình dạy học điều hướng vào nhu cầu, khả năng và lợi ích của học sinh. Học sinh được tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng dựa trên khả năng sẵn có và nhu cầu riêng của từng em. Học sinh được tự do chọn lựa phương pháp học tập, độc lập truy tìm kiến thức để giải quyết các vấn đề học tập.
Học sinh tự lực, tự giác, tự chịu trách nhiệm mọi hoạt động học tập của mình. Nhờ đó, học sinh cảm thấy tự hào với kiến thức chính mình đạt được, và khả năng của các em được tôn trọng trong môi trường học tập. Như thế, các em có động lực phát huy tinh thần học hỏi và khả năng sáng tạo”. 5) Giáo dục phát triển năng lực Định hướng năng lực và dạy học phát triển năng lực đã và đang là một vấn đề được quan tâm đặc biệt cả trên bình diện lý luận và thực tiễn giáo dục, nhất là trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ ở đại học.
Giáo dục phát triển năng lực là giáo d ục làm phát triển các yếu tố sau ở người học: khả năng, năng khiếu, tiềm năng, sự thành thạo, hiệu suất, hiệu quả, kỹ năng. Xu hướng giáo dục này phát triển cả năng lực chung và năng lực chuyên biệt ở người học. Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hặc cốt lõ i.là m nền tảng cho mọi hoạt động và sự phát triển của người học như: năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, ngôn ngữ, tính toán, giao tiếp, vận đ ộ n g .N ăn g lực chuyên biệt là những năng lực riêng được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường lao động nghề nghiệp đặc thù. Đó là các năng lực như: công nghệ, dịch vụ, sư phạm, thể thao, nghệ th u ậ t.C á c năng lực chuyên biệt đầu tiên gắn chặt với khả năng thiên bẩm (sở trường) song quan trọng hơn là nó được phát hiện, bồi dưỡng trong quá trình giáo dục.
Trong giáo dục phát triển năng lực, người ta rất quan tâm tới “chuẩn đầu ra”. Nếu như mục tiêu đào tạo được phản ánh ở việc người học đạt được các yếu tố như kiến thức, kỹ năng, thái độ sau khi học hết một bài hay một môn học thì “chuẩn đầu ra” là kỳ vọng, là yêu cầu về khả năng làm việc, năng lực nghề n g h iệ p .c ủ a người tốt nghiệp theo yêu cầu của xã hội, của thị trường lao động. 6) Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục Với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, của thời đại 4.0, ngườ i học có thể học ở mọi lúc, mọi nơi mà không phải ngồi trong lớp học tập trung. Kiến thức ngày nay được sinh ra và nhanh chóng phát tán rộng rãi khắp nơi trên thế giới dưới nhiều hình thức, đặt biệt là mạng truyển thông.
Công nghệ thông tin không những cung cấp tài liệu và chương trình học tương tác, mà còn kết nối mọi người lại với nhau thông qua internet. Chỉ cần ngồi ở nhà hoặc trong không gian nào đó có kết nối internet, người ta có thể nói chuyện, trao đổi và học tập với nhau thông qua internet. Người học có thể tiếp cận với kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại chỉ cần vài thao tác đơn giản với máy tính kết nối internet.