Nghiên cứu thực trạng kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên THCS tại Đà Nẵng

Tài liệu phân tích sâu thực trạng, nguyên nhân và tác động của kiệt sức nghề nghiệp (burnout) đối với giáo viên THCS tại thành phố Đà Nẵng.

Chuyên ngành

Tâm lý – Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

94
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Định nghĩa Burnout Giáo viên

Burnout giáo viên hay kiệt sức nghề nghiệp là tình trạng mệt mỏi về thể chất, cảm xúc và tinh thần do công việc giảng dạy kéo dài. Theo Maslach, burnout bao gồm ba thành phần chính: suy kiệt cảm xúc (Emotional Exhaustion), phi cá nhân hóa (Depersonalization) và suy giảm hiệu năng cá nhân (Personal Accomplishment). Tại Đà Nẵng, tình trạng kiệt sức giáo viên THCS ngày càng trở nên phổ biến, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và sức khỏe tâm lý của người thầy cô. Đây không chỉ là vấn đề cá nhân mà còn là thách thức lớn đối với hệ thống giáo dục hiện nay.

1.1. Định nghĩa Burnout trong Giáo dục

Burnout được định nghĩa là hội chứng mệt mỏi toàn diện kết quả từ công việc lâu dài áp lực cao. Trong lĩnh vực giáo dục, burnout giáo viên là sự kiệt sức thể chất và tinh thần, dẫn đến mất năng lượng, động lực công việc. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học và mối quan hệ với học sinh.

1.2. Ba Thành phần Chính của Burnout

Suy kiệt cảm xúc là cảm giác mệt mỏi, kiệt sức về năng lượng tâm lý. Phi cá nhân hóa là sự vô cảm, mất đồng cảm với học sinh. Suy giảm hiệu năng là cảm giác không đạt được thành tích trong công việc giáo dục.

II. Nguyên nhân Chính dẫn đến Burnout Giáo viên THCS Đà Nẵng

Nguyên nhân burnout giáo viên THCS tại Đà Nẵng xuất phát từ nhiều yếu tố phức tạp. Áp lực từ khối lượng công việc lớn, yêu cầu đổi mới giáo dục, mức lương thấp so với công việc, thiếu sự hỗ trợ từ nhà trường và gia đình là những nguyên nhân chính. Ngoài ra, stress từ quản lý hành chính, khó khăn trong quản lý hành vi học sinh, và thiếu cơ hội phát triển chuyên môn cũng góp phần tạo nên tình trạng kiệt sức. Các yếu tố xã hội như áp lực từ phụ huynh, kỳ vọng xã hội cao về vai trò giáo viên càng làm trầm trọng thêm vấn đề này.

2.1. Áp lực Công việc và Quá tải Nhiệm vụ

Giáo viên THCS phải đảm nhận nhiều vị trí: giảng dạy, chủ nhiệm, tư vấn học sinh. Khối lượng công việc quá tải bao gồm: soạn bài, chấm bài, làm hồ sơ hành chính, tham gia các hoạt động nhà trường. Điều này dẫn đến thiếu thời gian nghỉ ngơi và burnout nhanh chóng.

2.2. Yếu tố Kinh tế và Mức Lương Thấp

Mức lương giáo viên tại Đà Nẵng chưa tương xứng với công việc đòi hỏi cao. Giáo viên phải làm thêm để trang trải cuộc sống, gây ra căng thẳng tâm lý và mệt mỏi kiệt sức.

2.3. Thiếu Hỗ trợ từ Nhà trường và Cộng đồng

Sự thiếu hỗ trợ chuyên môn từ lãnh đạo nhà trường, thiếu cơ hội đào tạo nâng cao kỹ năng, và áp lực từ phụ huynh học sinh làm tăng cảm giác cô đơn, bất lực của giáo viên.

III. Thực trạng Burnout Giáo viên THCS tại Đà Nẵng

Theo nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, tình trạng kiệt sức nghề nghiệp ở giáo viên THCS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ở mức độ trung bình đến cao. Khoảng 40-50% giáo viên báo cáo cảm giác suy kiệt cảm xúc thường xuyên. Biểu hiện của burnout bao gồm: mệt mỏi, khó tập trung, giảm hứng thú công việc, tăng tính cáu kỉnh, các vấn đề sức khỏe thể chất như đau đầu, mất ngủ. Nhiều giáo viên cho biết họ đôi khi muốn bỏ nghề hoặc cảm thấy công việc không có ý nghĩa. Tình trạng này làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dụcphát triển tâm lý học sinh.

3.1. Mức độ Suy kiệt Cảm xúc

Suy kiệt cảm xúc là biểu hiện mạnh nhất của burnout giáo viên THCS. Giáo viên cảm thấy kiệt sức về cảm xúc, không còn năng lượng để tương tác tích cực với học sinh. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng tương tác giữa thầy cô và học sinh, gây hại đến môi trường học tập.

3.2. Biểu hiện Phi cá nhân hóa và Mất Đồng cảm

Nhiều giáo viên THCS phát triển thái độ vô cảm, xa cách với học sinh. Họ coi học sinh như những con số, mất đi sự đồng cảm và quan tâm cá nhân. Đây là hệ quả trực tiếp của kiệt sức tâm lý.

3.3. Giảm Hiệu năng Cá nhân và Động lực Công việc

Giáo viên burnout thường cảm thấy công việc không đạt kỳ vọng, năng lực giáo dục suy giảm. Động lực công việc giảm, dẫn đến hiệu suất giảmsự không thỏa mãn với thành tích công việc.

IV. Tác động và Biện pháp Phòng ngừa Burnout

Tác động của burnout giáo viên rất lớn không chỉ đến bản thân giáo viên mà còn đến học sinh, gia đình và toàn bộ hệ thống giáo dục. Giáo viên burnout có mức độ bệnh tật cao hơn, chất lượng cuộc sống kém, và nguy cơ rời bỏ nghề tăng đáng kể. Để phòng ngừa burnout, cần có giải pháp toàn diện. Nhà trường cần cải thiện điều kiện làm việc, tăng hỗ trợ chuyên môn, đơn giản hóa công việc hành chính. Xã hội cần cải thiện mức lương giáo viên, nâng cao vị thế xã hội của ngành. Cá nhân giáo viên cần phát triển kỹ năng quản lý stress, tìm kiếm hỗ trợ tâm lý, và duy trì cân bằng cuộc sống công việc.

4.1. Tác động đến Giáo viên và Hệ thống Giáo dục

Burnout giáo viên gây ra mất cân bằng sức khỏe, tăng bệnh tật mãn tính như bệnh tim, cao huyết áp. Chất lượng giảng dạy giảm, học sinh không được hướng dẫn tốt, dẫn đến hậu quả tiêu cực cho phát triển giáo dục.

4.2. Biện pháp Phòng ngừa từ Nhà trường

Nhà trường cần giảm công việc hành chính, tăng sự hỗ trợ chuyên môn, tổ chức các hoạt động xây dựng tinh thần đồng đội, cung cấp tư vấn tâm lý cho giáo viên. Nâng cao môi trường làm việccông nhận đóng góp của giáo viên.

4.3. Biện pháp Phòng ngừa Cá nhân và Xã hội

Giáo viên cần phát triển kỹ năng quản lý stress, thực hành mindfulness, duy trì cân bằng công việc-cuộc sống. Xã hội cần nâng cao lương giáo viên, cải thiện vị thế xã hội, hỗ trợ chính sách cho nhân viên giáo dục.

18/12/2025
Nghiên cứu thực trạng kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên trung học cơ sở tại địa bàn thành phố đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÌNH TRẠNG KIỆT SỨC CỦA GIÁO VIÊN 1. Tổng quan các nghiên cứu về tình trạng kiệt sức nghề nghiệp 1. Nghiên cứu nước ngoài Tình trạng kiệt sức nghề nghiệp hiện nay ngày càng cao, do áp lực công việc, dẫn đến nhiều hệ quả dưới đây là một số nghiên cứu về tình trạng kiệt sức nghề nghiệp trên thế giới: a. Nghiên cứu kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên Giáo viên được cho là có nhiều vấn đề về sức khỏe tâm thần hơn các ngành nghề khác.

Tuy nhiên điều này chưa được thiết lập chính thức. Xem xét tài liệu trên toàn thế giới, không có nghiên cứu nào ngoại trừ một nghiên cứu trong đó nhóm so sánh không đầy đủ, cho thấy sự gia tăng về tình trạng đau khổ tâm lý hoặc bệnh lý tâm thần. Một nghiên cứu gần đây của Pháp (1999/2000) được thực hiện tại MGEN với mẫu đại diện toàn quốc của Pháp (6650 người, 3856 giáo viên) đã xác nhận kết quả này, ngoại trừ những giáo viên nữ theo độ tuổi bị trầm cảm nhiều hơn so với các tầng lớp không phải là giáo viên ở độ tuổi tương đương. Mặt khác, giáo viên tự coi mình là người bị kiệt sức nghề nghiệp nhưng điều này khó có thể so sánh với nghề khác và không có nghiên cứu nào mô tả đầy đủ nhóm đối chứng nếu có; dù sao đi nữa, cảm giác kiệt sức nghề nghiệp không phải là bệnh.

Chuyển sang tình trạng kiệt sức, các tác giả giải quyết vấn đề bằng cách trình bày tình trạng kiệt sức như Maslach mô tả ban đầu về các y tá và xem xét khả năng áp dụng nó cho giáo viên. [15] Một nghiên cứu của Hakanen et al. (2015) [13] đã khảo sát yếu tố gây ra kiệt sức của giáo viên ở Phần Lan. Kết quả cho thấy, các yếu tố như áp lực công việc, sự thiếu hỗ trợ và sự bất đồng quan điểm với người quản lý là những yếu tố chính gây ra kiệt sức của giáo viên.

Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho thấy rằng các giáo viên bị kiệt sức thường có mức độ độc tố hóa học cao hơn so với những giáo viên không bị kiệt sức. 15 Một nghiên cứu của Chang et al. (2019) [9] đã khảo sát tác động của công việc đến kiệt sức của giáo viên tiểu học ở Trung Quốc. Kết quả cho thấy, áp lực công việc và tình trạng thiếu nguồn lực là những yếu tố gây ra kiệt sức của giáo viên.

Ngoài ra, các tác giả cũng cho thấy rằng sự hỗ trợ từ nhà trường và sự hỗ trợ từ đồng nghiệp có thể giảm thiểu tình trạng kiệt sức của giáo viên. Một nghiên cứu của Wang et al. (2019) [24] đã khảo sát yếu tố gây ra kiệt sức của giáo viên tiểu học ở Trung Quốc. Kết quả cho thấy, áp lực công việc, tình trạng thiếu hỗ trợ, và tình trạng bất đồng quan điểm với đồng nghiệp và người quản lý là những yếu tố chính gây ra kiệt sức của giáo viên.

Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho thấy rằng các giáo viên có mức độ tự giác và sự hỗ trợ từ đồng nghiệp có thể giảm thiểu tình trạng kiệt sức của họ. Nhằm mục đích cung cấp một khuôn khổ nguyên nhân dẫn đến tình trạng kiệt sức của giáo viên (BO) và sự gắn kết với công việc (WE) bằng cách xem xét các yếu tố góp phần gây ra hiện tượng này và đánh giá mức độ ảnh hưởng của giáo dục tiến bộ (PE) đến hiệu suất của giáo viên trong các cơ sở giáo dục đại học (HEIs) [21]. Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật lấy mẫu nhiều giai đoạn với sự trợ giúp của dữ liệu tạo ngẫu nhiên trên máy tính từ danh sách giáo viên được chọn. Cuộc khảo sát có hai phần; phần đầu tiên bao gồm một bảng câu hỏi về PE, BO, WE và kết quả của tổ chức và phần thứ hai bao gồm bốn mục để đo lường các biến số nhân khẩu học.

Nhà nghiên cứu đã liên hệ với 745 giáo viên và yêu cầu họ điền vào bảng câu hỏi nhưng tác giả chỉ nhận được 498 câu trả lời có thể sử dụng được. Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò điều tiết của PE làm giảm BO của giáo viên các trường đại học và làm tăng WE. Nghiên cứu kiệt sức nghề nghiệp ở ngành nghề khác Công việc tri thức liên quan đến nhiều đặc điểm nâng cao sức khỏe, nhưng kiệt sức nghề nghiệp và kiệt sức có thể được gây ra bởi sự gia tăng nhanh chóng cường độ tri thức trong công việc, nhu cầu công việc mới và các nền văn hóa chuyên nghiệp mới 16 mới nổi nhấn mạnh đến sự cam kết quá mức đối với công việc. Mặc dù có những nghiên cứu về tình trạng kiệt sức trong công việc và các yếu tố dự đoán ở các y tá trên toàn thế giới nhưng vẫn thiếu bằng chứng cụ thể về y tá Trung Quốc.

Nhóm chuyên gia nghiên cứu đã thực hiện bài nghiên cứu về “Dự đoán tình trạng kiệt sức trong công việc của y tá Trung Quốc : đánh giá có hệ thống dựa trên phân tích dữ liệu lớn” Mục đích của bài đánh giá này là tổng hợp các nghiên cứu hiện tại về các yếu tố dự đoán liên quan đến tình trạng kiệt sức ảnh hưởng đến y tá Trung Quốc. Mục đích của bài đánh giá này là tổng hợp các nghiên cứu hiện tại về các yếu tố dự đoán liên quan đến tình trạng kiệt sức ảnh hưởng đến y tá Trung Quốc. Chúng tôi đã tìm kiếm các cơ sở dữ liệu của Trung Quốc bao gồm Cơ sở hạ tầng Tri thức Quốc gia (CNKI), WanFang, Cơ sở dữ liệu Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trung Quốc và Cơ sở dữ liệu Y học Sinh học Trung Quốc (CBM) ; và các cơ sở dữ liệu quốc tế bao gồm Thư viện Cochrane, PubMed, EMBASE và Web of Science được xuất bản đến ngày 30 tháng 8 năm 2022 [18]. 125 nghiên cứu được xác định đã đánh giá một loạt các yếu tố dự đoán về tình trạng kiệt sức trong công việc.

Kết quả cho thấy mối quan hệ làm việc tốt và những cá nhân bị kiểm soát nội bộ được cho là có khả năng dự đoán về tình trạng kiệt sức trong công việc. (Mengjie Xia, Junqiang Wang, Dongjun Bi., 2023) Kiệt sức trong công việc được coi là kết quả của việc nhân viên tiếp xúc với kiệt sức nghề nghiệp kéo dài. Mục đích chính của nghiên cứu hiện tại là xác minh xem liệu năng lực bản thân, con đường hy vọng và cơ quan hy vọng có phải là những yếu tố trung gian trong mối quan hệ này hay không. Nghiên cứu bao gồm 408 người trưởng thành nói tiếng Ba Lan đã hoàn thành Thang đo kiệt sức nghề nghiệp nhận thức, Bản kiểm kê sự kiệt sức của Maslach, Thang đo năng lực bản thân tổng quát và Thang đo hy vọng bố trí.

Kết quả cho thấy mối tương quan tích cực giữa kiệt sức nghề nghiệp với điểm kiệt sức tổng thể, cũng như tất cả các thang đo phụ. Hơn nữa, cơ quan hy vọng đóng vai trò trung gian, do đó gợi ý rằng cũng có mối quan hệ gián tiếp giữa kiệt sức nghề nghiệp và kiệt sức trong công việc. Do đó, có thể giả định rằng kiệt sức nghề nghiệp cao hơn có liên quan đến động lực tạo ra và duy trì các hành động cần thiết để đạt được mục tiêu thấp hơn. Do đó, cơ quan có ít hy vọng hơn có thể khiến nhân viên bị kiệt sức nghề 17 nghiệp đến mức kiệt sức hơn và giảm thành tích cá nhân.

(Małgorzata Szcześniak ,Adam Falewicz ,Marcin Wnuk ,Grażyna Bielecka &Daria Madej , 2024) [17] Y tá, với tư cách là chuyên gia chăm sóc sức khỏe tuyến đầu, là nguồn lực quan trọng nhất của các tổ chức y tế và thông qua sự đóng góp của họ, các tổ chức có thể đạt được mục tiêu của mình. Những mục tiêu này bao gồm đáp ứng nhu cầu sức khỏe của dân số ngày càng già đi, giải quyết các trường hợp phức tạp do số lượng bệnh nhân mắc bệnh đi kèm ngày càng tăng và giảm sai sót và tác dụng phụ gây hại cho một số lượng đáng kể bệnh nhân nhập viện. Mục đích nghiên cứu của nhóm nghiên cứu là điều tra tác động của khả năng phục hồi đạo đức đối với việc lặng lẽ nghỉ việc, kiệt sức trong công việc và ý định luân chuyển công việc ở một mẫu y tá sau đại dịch COVID-19. Nhóm nghiên cứu đã thực hiện một nghiên cứu cắt ngang ở Hy Lạp.

Việc thu thập dữ liệu được thực hiện trong tháng 11 năm 2023. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng Thang đo khả năng phục hồi đạo đức Rushton (RMRS) đã sửa đổi để đo lường khả năng phục hồi đạo đức của các y tá. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng Thang đo cai thuốc trong im lặng (QQS) để đo mức độ cai thuốc trong im lặng của các y tá. Mặc dù chúng ta đang ở thời kỳ hậu COVID-19 nhưng tình trạng kiệt sức ở các y tá vẫn tiếp tục được ghi nhận ở mức độ cao.

Điều này có thể được giải thích là do trong đại dịch COVID-19, các y tá đã làm việc trong những tình huống cực kỳ khó khăn và mức độ kiệt sức cao tiếp tục ảnh hưởng đến họ. ( Petro Galanis1, Loannis Moisoglou,., 2024) [19] Để kiểm tra mối tương quan giữa thời gian làm việc dài, hoạt động thể chất và tình trạng kiệt sức. Hu, Niên-Chih MD cùng cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu về Mối liên hệ giữa thời gian làm việc dài, không hoạt động thể chất và kiệt sức. Một cuộc khảo sát cắt ngang được thực hiện với 1560 nhân viên toàn thời gian, những người đã trải qua kiểm tra sức khỏe định kỳ vào năm 2013.

Các đối tượng được chia thành các cấp độ trên, giữa và dưới theo điểm số Copenhagen Burnout Inventory (CBI). Việc so sánh giữa các nhóm có mức độ kiệt sức cao và thấp cho thấy thời gian làm việc dài có mối tương quan đáng kể với tình trạng kiệt sức theo cách phụ thuộc vào liều lượng. Thời gian làm việc kéo dài có liên quan đáng kể hơn đến tình trạng kiệt sức ở những người 18 dưới 50 tuổi, phụ nữ và nhân viên không hoạt động thể chất.[14] Phân tích vai trò của tình trạng kiệt sức trong công việc liên quan đến giờ làm việc và sức khỏe chủ quan (SWB) của các nhà quản lý bệnh viện tại các bệnh viện công cấp 3 của Trung Quốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ