Phần mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về stress và ứng phó với stress của học sinh trƣờng THPT Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu về stress và cách ứng phó với stress của học sinh THPT Tài liệu tham khảo Phụ lục 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ STRESS VÀ CÁCH ỨNG PHÓ VỚI STRESS TRONG HỌC Ở HỌC SINH 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu stress và cách ứng phó 1. Tổng quan nghiên cứu ngoài nƣớc Stress là thuật ngữ tiếng Anh bắt nguồn từ chữ La tinh “Strictus” và một phần của từ “Stringere” với ý nghĩa là căng thẳng, bất hạnh, đè nén, hay nghịch cảnh. [23] Stress đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đƣợc chia làm 2 hƣớng nghiên cứu cơ bản: Một là nghiên cứu dƣới góc độ sinh học: đây là hƣớng nghiên cứu thu hút nhiều nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực sinh lý học và y học nhƣ V., các nhà tâm lý học phƣơng Tây cũng có nhiều ngƣời nghiên cứu theo hƣớng này nhƣ E.
Hai là nghiên cứu dƣới góc độ tâm lý học nhƣ L.Kitaepxmux (1983) ông đã thống kê và công bố trên 1000 tài liệu là các sách báo khoa học nghiên cứu stress trên góc độ tâm lý học xuất bản bằng tiếng Anh và tiếng Đức (1976-1980); các nghiên cứu về stress trong lao động nhƣ J.Gardell (1979); các nghiên cứu về stress ở cán bộ quản lý nhƣ J. [19] Năm 1914, Walter Cannon sử dụng thuật ngữ Stress trong Sinh lí học để chỉ các stress về mặt cảm xúc và sau đó nghiên cứu trên động vật có vú khi chúng ở trong các tình huống khó khăn nhƣ sự thay đổi về nhiệt độ, thời tiết,. Ông nghiên cứu và quan sát một loạt các phản ứng bản năng trong giới tự nhiên gọi là phản ứng “chống và chạy”. Mỗi khi các loài vật đối mặt với kẻ săn mồi, chúng phải quyết định giữa một là chống cự, hai là chạy trốn.
Trong cả hai tình huống này, nhịp tim và huyết áp của con vật tăng cao, nhịp thở tăng, tăng hoạt động các cơ bắp, hơn nữa thị lực và thính lực cũng hoạt động mạnh hơn. Theo ông, đây là một phản ứng cài đặt sẵn về mặt sinh học cho phép mỗi cá nhân đều có thể ứng phó với các tác nhân, vấn đề đe dọa từ môi trƣờng bên ngoài. Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến stress, tuy nhiên, nhìn chung thì các phản ứng của con ngƣời đối với stress đều diễn ra theo 3 giai đoạn: (1) con ngƣời cảm thấy khó khăn với vấn đề mà họ phải đối mặt, (2) con ngƣời dần thích nghi đƣợc với những khó khăn đó, (3) con ngƣời không chịu đƣợc những khó khăn đó nữa, dẫn đến stress. [50] Theo Hans Selye - ngƣời đầu tiên nêu ra khái niệm stress hiện đại : “Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trƣớc những tình huống căng thẳng”.
Đó là phản ứng của cơ thể nhằm giúp cơ thể con ngƣời khôi phục lại đƣợc trạng thái cân bằng nội môi, khắc phục đƣợc các vấn đề xảy ra để đảm bảo đƣợc sự duy trì và thích nghi với những thay đổi và điều kiện sống của môi trƣờng, hay có thể hiểu stress 13 góp phần giúp con ngƣời thích nghi với môi trƣờng sống. Theo ông, stress có tính chất tổng hợp chứ không phải chỉ thể hiện trong một trạng thái bệnh lý nào cả. Và mỗi tác nhân gây ra stress luôn đƣợc phản ứng ở hai mặt: mặt thứ nhất là những phản ứng mang tính đặc hiệu đó là chức năng các nội quan, cơ thể thần kinh, thể dịch; mặt thứ hai là những phản ứng không đặc hiệu của các quá trình thích nghi tâm - sinh lý thể hiện khi gặp các tác động khác nhau về cƣờng độ, sự kéo dài hoặc tầm quan trọng của các tác động đó đối với chủ thể. [14] [23] Nếu sự đáp ứng của con ngƣời với stress không đầy đủ, không phù hợp, cơ thể không tạo ra đƣợc sự cân bằng mới, từ đó ít nhiều các chức năng của cơ thể sẽ bị rối loạn, các dấu hiệu bệnh lý bắt đầu xuất hiện, đó con gọi là stress.
Selye còn nhấn mạnh đến vai trò của cảm xúc đối với thể chất và đó là nguyên nhân gây ra một số bệnh nhƣ loét dạ dày, hen phế quản,. Selye, các nguyên nhân đó chính là tất cả các sự vật, hiện tƣợng trong môi trƣờng sống, trong các mối quan hệ phức tạp của con ngƣời gây ra những cảm xúc mạnh, phần lớn gây ra các cảm xúc tiêu cực (lo lắng, tức giận, sợ hãi, thất vọng,. Ông nhận thấy các đáp ứng không đặc hiệu mà ông gọi là hội chứng thích nghi với 3 giai đoạn (giai đoạn báo động, giai đoạn chống đỡ và giai đoạn suy kiệt) có liên quan đến sự tăng bài tiết Glucocorticoid ở vỏ thƣợng thận. [30] Hans Selye là ngƣời đầu tiên nêu ra khái niệm stress hiện đại.
Năm 1936, trong nghiên cứu của mình, ông đã tiến hành chiết từ dịch tiết của buồng trứng động vật có sừng một loại hormone và đem nó tiêm vào chuột. Tiến hành quan sát một hệ thống liên quan của các đáp ứng sinh lý chung nhất. Sau một thời gian, chuột có những biểu hiện thay đổi: vỏ tuyến thƣợng thận tăng trƣởng mạnh và chứa một lƣợng không lớn các hạt lipit bài tiết; tuyến ức, các hạch lympho và các cấu trúc chứa lympho bị teo nhỏ lại (còn gọi là involution); thành dạ dày, tá tràng, ruột của chuột bị loét và chảy máu. Những biến đổi này về sau đƣợc gọi là “triệu chứng stress sinh học”.
Và ba biến đổi trên đã trở thành ba chỉ số quan trọng của stress và là cơ sở đầu tiên giúp Hans Selye phát triển một khái niệm về stress đầy đủ. [52] Từ kết quả công trình nghiên cứu của Beard, ông gỡ bỏ định kiến “không chấp nhận xã hội gắn liền với bệnh tật” và chẩn đoán bệnh về mặt y học chứ không phải về mặt đạo đức. Ông còn cho rằng, suy nhƣợc thần kinh là hậu quả của một loại tổ chức chứng bệnh liên quan đến tinh thần. [69] Nhà tâm lý học Richard Lazarus cho rằng: Stress là trạng thái hay cảm xúc mà chủ thể trải nghiệm khi họ nhận ra rằng các yêu cầu, đòi hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vƣợt qua nguồn lực cá nhân và xã hội mà họ có thể huy động đƣợc.
Delay: “Stress là trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể buộc phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tình huống đe dọa”. [35] Theo Holroyd (1979) đã định nghĩa về stress nhƣ đòi hỏi của cá nhân phải thử thách những tiềm năng và đáp ứng không bình thƣờng với một sự kiện từ môi trƣờng. Theo quan điểm này, sự kiện gây nên stress xuất phát ra trong môi trƣờng hơn là bên trong cá nhân. Từ định nghĩa ta có thể thấy, sức khỏe tâm thần đã đƣợc Tổ chức Y tế Thế giới quan tâm và đánh giá cao vai trò của của sức khỏe tâm thần, không chỉ quan trọng ở mặt thể chất và cả mặt tinh thần và xã hội.
Sức khỏe tâm thần là một phần không thể tách rời của sức khỏe, chúng có mối liên quan mật thiết với sức khỏe thể chất (hành vi) và sức khỏe tâm thần.Kitaepxmux nhìn nhận stress là những nét không đặc hiệu của những biểu hiện sinh lý và tâm lý của cơ thể, nảy sinh trong mọi phản ứng của cơ thể. Theo ông, tính không đặc hiệu của các quá trình thích nghi tâm lý và sinh lý thể hiện cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực, khi gặp các tác động khác nhau về cƣờng độ, trƣờng độ, tầm quan trọng của nó đối với chủ thể.20] Thực tế của việc căng thẳng mãn tính và các vấn đề liên quan đến nó là do cơ thể của chúng ta phản ứng cùng một cách với những suy nghĩ và các cảm xúc căng thẳng. Do vậy, việc lo lắng, tƣởng tƣợng, vƣợt qua những xáo trộn, tổn thƣơng trong quá khứ hoặc lƣờng trƣớc những khó khăn, việc giữ chặt những cảm xúc khó chịu và thƣờng đó là những cảm xúc, suy nghĩ tiêu cực hay sợ hãi sẽ làm cho cơ thể chúng ta tăng thêm áp lực. Tiến sĩ Sapolsky chỉ ra rằng, những con ngựa vằn không vị loét bởi chúng không bị căng thẳng về mọi thứ trong cuộc sống của chúng.
Thực chất, chúng ta chỉ trải nghiệm và phản ứng với căng thẳng khi một sự kiện gây căng thẳng đang thực sự xảy ra với chính chúng ta. [74] Các thành viên trong gia đình (thân nhân) của bệnh nhân có thể gặp những tác nhân gây căng thẳng đe dọa đến sức khỏe thể chất lẫn tinh thần và sự toàn vẹn của gia đình. Qua nghiên cứu cho thấy thân nhân của bệnh nhân phải chịu đựng nhiều tác nhân gây ra căng thẳng và thể hiện nhiều phản ứng hành vi, gồm những thay đổi về vấn đề ăn uống, ngủ nghỉ, các hoạt động thƣờng ngày,. Về sự không chắc chắn về tính nghiêm trọng, hay việc đột ngột phát hiện ra sự khác thƣờng của bệnh nhân có thể gây căng thẳng quá mức cho thân nhân của bệnh nhân.
Nghiên cứu dựa trên các khái niệm bỏ sung đƣợc tìm thấy trong lý thuyết tổng quát của Con Bertalanffy và Mô hình 15 ABCX kép về điều chỉnh và thích ứng của McCubbin và Patterson, gia đình đƣợc xem nhƣ một hệ thống mở có ranh giới và sự tƣơng tác giữa các thành viên, sự phát triển của hệ thống là chiến lƣợc để đối phó với các yếu tố gây căng thẳng và thách thức cảu gia đình. Mô hình điều chỉnh và thích ứng Double ABCX xem xét đến các yếu tố gây căng thẳng trong gia đình, các nguồn lực đối phó và nhận thức của gia đình về tác nhân gây căng thẳng ấy. [61] Martin và Schinke (1989) đã tiến hành khảo sát 200 nhân viên làm việc với gia đình và trẻ em cùng chuyên viên tâm lý lâm sàng của 7 trung tâm dịch vụ xã hội trong khu vực đô thị New York. Qua khảo sát kết quả thu đƣợc rằng, 57% nhóm chuyên viên tâm lý lâm sàng và 71% nhân viên làm việc với gia đình /trẻ em xác định rằng, họ gần nhƣ bị kiệt sức hoặc bị kiệt sức nghiêm trọng.