CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên 1. Ở nước ngoài Vấn đề “thích ứng” là một trong những vấn đề được nhiều nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu. Một trong những nhà tâm lý tiên phong trong nghiên cứu này đó chính là Jean Piaget (1896 - 1980).
Theo ông, sự thích ứng chính là sự cân bằng và được thực hiện bởi hai cơ chế đó là sự “đồng hóa” và “điều biến”. Quan điểm của ông cho rằng, sự thích ứng sinh học là sự cân bằng giữa đồng hóa môi trường và cơ thể với môi trường, còn sự thích ứng tâm lý – xã hội được ông giải thích là sự thích ứng với một thực tế riêng biệt khi nó đã đạt tới sự đồng hóa thực tế đó vào những hoàn cảnh mới do thực tế đặt ra. Sự thích ứng đòi hỏi sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể (giữa con người và môi trường), sao cho chủ thể có thể nhập vào khách thể mà vẫn tính đến những đặc điểm của mình [dẫn theo Cao Thị Thanh Nhàn (7)]. Quá trình thay đổi để thích ứng với môi trường đại học đã được nghiên cứu bởi nhiều học giả khác nhau.
Thích ứng với cuộc sống mới ở môi trường đại học là một tiêu chí quan trọng trong việc đạt được thành tích học tập tốt. Tân sinh viên đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, bao gồm sự khác biệt về phương pháp giảng dạy của giảng viên, yêu cầu cao đối với ý thức tự chủ của sinh viên. Kết quả của nhiều nghiên cứu đã khẳng định sự thích ứng là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong học tập của sinh viên. Vấn đề thích ứng của sinh viên với hoạt động học tập đã là đề tài nghiên cứu của nhiều công trình ở nước ngoài cũng như trong nước.Meseracov trên cơ sở nghiên cứu quá trình hình thành hoạt động học tập của sinh viên thuộc Khoa Tâm lý học – Đại học tổng hợp Maxcova đã đi đến kết luận: Việc thích ứng của sinh viên đại học với hoạt động học tập thực chất là khả năng tổ chức quá trình phát triển của người học, tiếp cận được với hệ thống tri thức và kinh nghiệm lịch sử xã hội [dẫn theo Vũ Mộng Đóa (2)].
Nghiên cứu về sự thích ứng với kết quả học tập (xét theo mối quan hệ khác giới), các nhà tâm lý học người Anh là J. Theo các tác giả kết quả này chỉ ra rằng sinh viên có mối quan hệ giao tiếp với bạn bè hoặc bạn khác giới sẽ thúc đẩy tính tích cực hoạt động - giao tiếp và đạt kết quả học tập tốt hơn so với những sinh viên không có mối quan hệ bạn bè khác giới. Những kết quả trên giúp chúng ta nhận thấy rằng nếu sinh viên phát huy được tính tích cực, hoạt động - giao tiếp sẽ làm tăng khả năng thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên. Rõ ràng giao tiếp có vai trò là điều kiện để tâm lý con người hình thành, phát triển.
Giao tiếp cũng tạo ra nhu cầu, động cơ học tập tích cực giúp sinh viên đạt kết quả học tập ngày càng cao hơn trước.Petrovxki (1986) và các đồng nghiệp nghiên cứu về vấn đề thích ứng học tập của sinh viên. Tác giả cho rằng thích ứng học tập của sinh viên là một quá trình phức tạp, diễn ra ở nhiều mặt như: - Thích nghi với hệ thống học tập mới - Thích nghi với chế độ làm việc và nghỉ ngơi - Thích nghi với các mối quan hệ mới [dẫn theo Vũ Mộng Đóa (2)] Pascarella và Terenzini (1991) tranh luận rằng đối với hầu hết sinh viên, việc chuyển đổi sang lớp học đại học đòi hỏi một sự điều chỉnh những thói quen học tập. Sinh viên năm đầu tiên không khó nhận ra sự khác lạ tại môi trường đại học so với bậc phổ thông. Tại trường đại học, sinh viên phải cạnh tranh gay gắt hơn để dành vị trí xếp hạng do các lớp học có nhiều sinh viên hơn, giảng viên sử dụng phong cách giảng dạy khác nhau, số lượng và tần số làm việc bằng văn bản cao hơn và cũng đòi hỏi những tiêu chuẩn khắt khe hơn.
Chính điều này bắt buộc các sinh viên mới phải đáp ứng sự thay đổi trong học tập, thay đổi thói quen học tập của họ và sắp xếp lại các vấn đề các ưu tiên hơn. Theo nghiên cứu của Beder (1997) thấy rằng sinh viên năm đầu tiên gặp khó khăn khi điều chỉnh với các phong cách khác nhau của việc giảng dạy so với trường học. Điều này phù hợp với khẳng định của Adler và cộng sự (2008) rằng thích ứng với môi trường đại học là rất quan trọng cho sự thành công trong học tập. Các nhà nghiên cứu cho rằng thích ứng không tốt tương quan với kết quả học tập kém, tỷ lệ tốt nghiệp thấp và khả năng thành công thấp sau này.
Bên cạnh đó, hầu hết những học sinh tốt nghiệp phổ thông 6 nếu có khó khăn trong học tập và các mối quan hệ xã hội trước đó thì cũng kém thích ứng với môi trường đại học mới. Ở Nam Phi, Cherian và cộng sự (1998) báo cáo rằng 33 - 85% sinh viên năm thứ nhất của Đại học Nam Phi đã có kinh nghiệm thích ứng trong môi trường mới. Một nghiên cứu gần đây của Lloyd và Turale (2011) cho thấy một số lượng đáng kể sinh viên đại học Nam Phi phải đối mặt với vấn đề tài chính khi họ sống dưới mức nghèo khổ. Như vậy, việc độc lập về tình cảm và tài chính có thể là quá sức đối với sinh viên mới để thích ứng với học tập (Smith và Renk, 2007) [dẫn theo Cao Thị Thanh Nhàn (7)].
Trong nghiên cứu của Ngwen (2004) cho thấy rằng sinh viên đại học gặp phải vô số thách thức. Đó chính là việc đi học đầy đủ, cảm giác lo lắng trước kỳ thi và sự tăng trách nhiệm cá nhân. Sự thất bại trong việc đáp ứng những thách thức mà sinh viên phải đối mặt có chiều hướng tăng lên theo suốt quá trình chuyển đổi từ giáo dục phổ thông đến giáo dục đại học [17]. Theo Friedlander và cộng sự (2007), thích ứng tốt trong năm đầu tiên tại trường đại học của sinh viên vô cùng quan trọng cho sự thành công của sinh viên ở môi trường đại học và cả cuộc sống sau này.
Bên cạnh đó, Birnie – Lefcovitch (2000) khẳng định sinh viên năm đầu tiên cần phải thích ứng trong việc quản lý thời gian, kỹ năng học tập hiệu quả, năng lực hoàn thành khóa học và khả năng đương đầu với mọi thay đổi trong cuộc sống như một quá trình tất yếu. Các sinh viên cần phải cân bằng mọi nhu cầu của bản thân để có trách nhiệm với học. Mặt khác, sinh viên cần có sự thích ứng với những thay đổi trong thói quen hàng ngày, nỗi nhớ nhà và sự thiếu thốn tình cảm cũng như vật chất trong cuộc sống của họ [7]. Crede và Niehorster (2012) nhận thấy rằng mức độ thích ứng với môi trường đại học là nhân tố quan trọng trong việc tiên đoán về thành tích học tập và quyết tâm theo đuổi chương trình học của sinh viên [16].
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có một số lượng lớn sinh viên không thể hoàn thành nghĩa vụ và việc học của mình. Các nghiên cứu cũng cho thấy 40% sinh viên Mỹ trải qua 4 năm học nhưng không lấy được bằng tốt nghiệp. Năm đầu tiên có vẻ là năm quan trọng nhất để thích nghi với đại học vì thời gian này sinh viên còn đang bỡ ngỡ với môi trường mới. Vì vậy nếu sinh viên có thể thích ứng tốt với năm đầu tiên, cụ thể là thích ứng về nhiều mặt trong một môi trường mới như xây dựng được động lực để học tập, quản lý tốt về thời gian và tài chính, tham gia các lớp học và hoàn thành các 7 yêu cầu từ giáo viên cũng như của khoa, đó sẽ là nền tảng tốt để sinh viên có thể phát triển tốt hơn thời gian còn lại [dẫn theo Nguyễn Hoàng Trung và cộng sự (11)].
Nghiên cứu của Khamis, Yaakub, Shaari, Zailani, & Yusoff (2002) tại một trường đại học công lập ở Malaysia đã đưa ra bốn vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến sự thích nghi của sinh viên là: vấn đề học tập, vấn đề sức khỏe, khủng hoảng tài chính, xã hội và các vấn đề cá nhân [dẫn theo Nguyễn Hoàng Trung và cộng sự (11)]. Năm 2011, tác giả Bagicheva Zh.B đã nghiên cứu: “Sự thích ứng xã hội – nghề nghiệp của sinh viên với những điều kiện của trường Đại học Sư phạm”. Công trình đã nghiên cứu thực trạng sự thích ứng của sinh viên với những điều kiện học tập trong nhà trường sư phạm, đồng thời chỉ ra các nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến quá trình thích ứng là: mức độ gắn bó của các mối quan hệ, khuynh hướng nghề nghiệp, vai trò xã hội, hứng thú cá nhân, mức độ hài lòng với nghề nghiệp đã chọn [dẫn theo Phạm Văn Cường (1)]. Tóm lại, các công trình nghiên cứu về sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên trên thế giới đã nghiên cứu khá nhiều khía cạnh của thích ứng trong việc học tập.
Từ đây có thể thấy, sự thích ứng trong hoạt động học tập của sinh viên là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến tiến trình và kết quả học tập trong những năm học ở đại học của mỗi người. Ở Việt Nam Năm 1981, tác giả Bùi Ngọc Dung trong đề tài luận văn thạc sĩ “Bước đầu tìm hiểu sự thích ứng nghề nghiệp của giáo viên tâm lý giáo dục” đã đưa ra một số tiêu chí để đánh giá khả năng thích ứng nghề nghiệp của giáo viên tâm lý – giáo dục. Năm 1982, tác giả Nguyễn Ngọc Bích nghiên cứu đề tài: “Thích ứng học đường của SV sư phạm”. Cũng trong năm này, tác giả Nguyễn Thị Trang thực hiện đề tài: “Bước đầu tìm hiểu sự thích ứng học tập của sinh viên khoa Tâm lý – giáo dục".
Năm 1983, tác giả Hoàng Trần Doãn với luận văn thạc sĩ: “Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên khoa Văn và Toán trường Đại học sư phạm Hà Nội I". Năm 1996, nghiên cứu sinh Đỗ Mạnh Tôn đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài “Nghiên cứu sự thích ứng đối với học tập và rèn luyện của học viên các trường sĩ quan quân đội".