Khóa luận: Chỉ số trí tuệ xã hội của sinh viên ĐH Sư phạm - ĐH Đà Nẵng

Tải khóa luận nghiên cứu chỉ số trí tuệ xã hội (SQ) của sinh viên ĐH Sư phạm Đà Nẵng, so sánh theo giới tính, học lực và các yếu tố ảnh hưởng.

Chuyên ngành

Tâm lý-Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận

2024

76
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm Và Tầm Quan Trọng Của Trí Tuệ Xã Hội

Trí tuệ xã hội (SQ) là năng lực hoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh có tương tác với người khác. Nó liên quan đến nhận thức xã hội và khả năng giải quyết vấn đề một cách thông minh trong các hoạt động giao tiếp. Người có trí tuệ xã hội cao có khả năng vận dụng sức mạnh của trí não và ngôn ngữ cơ thể để giao tiếp hiệu quả, làm cho mọi người cảm thấy thoải mái. Chỉ số SQ được đo lường bằng các công cụ trắc nghiệm khoa học, và nó được xem như chiếc chìa khóa để thành công trong cuộc sống. Theo nghiên cứu của Daniel Goleman, trí tuệ xã hội cần thiết đối với tất cả mọi người, đặc biệt là những người làm nghề tiếp xúc với con người như giáo viên, bán hàng, bác sĩ và nhà quản lý.

1.1. Định Nghĩa Trí Tuệ Xã Hội

Trí tuệ xã hội là năng lực nhận thức xã hội kết hợp với khả năng ứng xử thông minh trong tương tác con người. Nó bao gồm kỹ năng đọc cảm xúc người khác, khả năng thích ứng với các tình huống xã hội và tài năng xây dựng các mối quan hệ bền vững. SQ không chỉ liên quan đến tính cách mà còn phản ánh sự phát triển nhân cách toàn diện của mỗi cá nhân.

1.2. Vai Trò Của Trí Tuệ Xã Hội Trong Giáo Dục

Trong môi trường giáo dục, trí tuệ xã hội của sinh viên ảnh hưởng đến khả năng hợp tác, giao tiếp và lãnh đạo. Sinh viên sư phạm đặc biệt cần phát triển SQ cao vì họ sẽ làm việc trực tiếp với học sinh và cộng đồng. Nghiên cứu trí tuệ xã hội giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển này.

II. Nghiên Cứu Trí Tuệ Xã Hội Tại ĐH Sư Phạm Đà Nẵng

Nghiên cứu về chỉ số trí tuệ xã hội của sinh viên tại Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng được tiến hành bởi Khoa Tâm Lý-Giáo Dục dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Mỹ Dung. Đây là một khoá luận quan trọng được hoàn thành năm 2024, tập trung vào việc đánh giá trí tuệ xã hội của 161 sinh viên từ các khoa khác nhau. Nghiên cứu sử dụng phương pháp trắc nghiệm kết hợp với thống kê toán học để phân tích mối quan hệ giữa SQ và các biến số như giới tính, học lực và chuyên ngành. Các kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể trong chỉ số trí tuệ xã hội giữa các nhóm sinh viên khác nhau.

2.1. Phương Pháp Nghiên Cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp lý luận để xây dựng nền tảng lý thuyết về trí tuệ xã hội. Phương pháp trắc nghiệm được áp dụng để đo lường SQ của sinh viên thông qua công cụ chuẩn hóa. Phương pháp thống kê toán học giúp phân tích dữ liệu từ 161 sinh viên, so sánh sự khác biệt theo các nhân tố khác nhau.

2.2. Khách Thể Và Phạm Vi Nghiên Cứu

Khách thể nghiên cứu bao gồm 161 sinh viên từ Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng thuộc các khoa khác nhau. Phạm vi nghiên cứu cover toàn bộ các năm học và các chuyên ngành sư phạm. Dữ liệu được phân tích theo giới tính, học lựckhoa để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ xã hội của sinh viên.

III. Kết Quả Và Biểu Hiện Trí Tuệ Xã Hội

Kết quả nghiên cứu cho thấy trí tuệ xã hội của sinh viên ĐH Sư Phạm Đà Nẵng có những đặc điểm nổi bật. Chỉ số SQ trung bình được tính toán dựa trên các thành phần: nhận thức xã hội, kỹ năng giao tiếp, khả năng quản lý quan hệ và sự đồng cảm. Các biểu hiện trí tuệ xã hội trong sinh viên bao gồm kỹ năng nghe hiểu, khả năng hợp tác nhóm, mạnh dạn trong biểu đạt ý kiến và nhạy bén với cảm xúc người khác. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng phát hiện các khoảng cách trong phát triển SQ giữa các nhóm sinh viên khác nhau, đặc biệt theo giới tính và học lực.

3.1. Đánh Giá Chung Về Trí Tuệ Xã Hội

Đánh giá chung cho thấy trí tuệ xã hội của sinh viên ở mức trung bình, với một số em vượt trội và một số cần cải thiện. Chỉ số SQ của sinh viên sư phạm phản ánh mức độ sẵn sàng cho nghề dạy học. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm môi trường gia đình, kinh nghiệm xã hội và các hoạt động ngoài khóa học.

3.2. So Sánh Theo Các Nhân Tố

So sánh theo giới tính cho thấy nữ sinh thường có SQ cao hơn trong kỹ năng giao tiếp. So sánh theo học lực chỉ ra rằng sinh viên có học lực tốt có trí tuệ xã hội phát triển hơn. So sánh theo khoa phát hiện sự khác biệt trong chỉ số SQ giữa các chuyên ngành khác nhau, với sinh viên khoa sư phạm ngoài ngữ có SQ cao hơn.

IV. Khuyến Nghị Phát Triển Trí Tuệ Xã Hội

Dựa trên kết quả nghiên cứu, có nhiều khuyến nghị để phát triển trí tuệ xã hội của sinh viên. Trường học cần tổ chức các hoạt động tập thể, buổi thảo luận nhóm và các dự án cộng đồng để rèn luyện SQ. Giảng viên nên tích cực hướng dẫn sinh viên về kỹ năng giao tiếp, tạo môi trường thoải mái cho sinh viên tham gia thảo luận. Sinh viên cần chủ động tham gia các hoạt động xã hội, phát triển kỹ năng lãnh đạo và công tác đội ngũ. Những yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ xã hội như thái độ tích cực, sự cảm thông và khả năng thích ứng cần được cải thiện thường xuyên.

4.1. Khuyến Nghị Cho Nhà Trường

Nhà trường nên phát triển chương trình nhằm tăng cường trí tuệ xã hội sinh viên. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa liên quan đến dịch vụ cộng đồng, các buổi hội thảo về kỹ năng xã hội và các sự kiện giao lưu sinh viên. Cần đánh giá SQ thường xuyên để theo dõi tiến độ phát triển.

4.2. Khuyến Nghị Cho Giáo Viên Và Sinh Viên

Giảng viên nên áp dụng phương pháp dạy học tương tác cao, khuyến khích thảo luận nhóm và phát triển kỹ năng giao tiếp. Sinh viên cần chủ động rèn luyện trí tuệ xã hội thông qua tham gia các câu lạc bộ, dự án tình nguyện và hoạt động xã hội khác nhằm chuẩn bị cho sự nghiệp sư phạm.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiểu một cách đơn giản, trí tuệ xã hội là năng lực hoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh có tương tác với người khác. Nó liên quan đến nhận thức xã hội và năng lực giải quyết vấn đề một cách thông minh trong các hoạt động giao tiếp ứng xử hoặc tương tác cùng người khác. Người có trí tuệ xã hội có khả năng vận dụng toàn bộ sức mạnh của trí não và ngôn ngữ cơ thể mình để giao tiếp và hiểu ngôn ngữ cơ thể người khác, làm cho mọi người cảm thấy thoải mái, dễ chịu khi tiếp xúc với mình.

Trí tuệ xã hội cần thiết đối với tất cả mọi người, đặc biệt là những người làm nghề tiếp xúc với con người trong xã hội như giáo viên, bán hàng, bác sĩ, nhà quản lý. Cùng với việc nghiên cứu trí thông minh, trí tuệ cảm xúc và trí tuệ sáng tạo, nghiên cứu trí tuệ xã hội là hướng đi mới của khoa học. Nó khai thác sâu tiềm năng trí tuệ của con người, làm phong phú hơn đối tượng nghiên cứu của tâm lý học và những ứng dụng của chúng vào trong đời sống thực tiễn của con người. Cùng với một số loại trí tuệ khác, TTXH góp phần quyết định sự thành công của con người.

Nghiên cứu TTXH sẽ góp phần cung cấp cơ sở lý luận cho các hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và nghề nghiệp. Trí tuệ xã hội của mỗi cá nhân cũng chịu sư chi phối của tâm trạng, xúc cảm,. có tính mục đích, gắn với tình huống, bối cảnh, mang bản chất văn hóa – xã hội nhất định. Trí tuệ xã hội được đo bằng chỉ số SQ (Social Quotient), các bằng chứng nghiên cứu của Daniel Goleman trong cuốn “Trí tuệ xã hội”, xuất bản năm 2006, cho thấy chỉ số SQ được xem như là chiếc chìa khóa để thành công trong cuộc đời, và nếu như các chỉ số trí tuệ khác (IQ,CQ,EQ,.) đều cao, thì cá nhân đó gần như chắc chắn sẽ là một người thành đạt trong cuộc sống.

Nghiên cứu về trí tuệ xã hội (SI- Social Intelligence) và mối quan hệ của nó đối với sự thành công trong nghề nghiệp và cuộc đời của một con người là một hướng nghiên cứu mới được các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm. Những năm gần đây, TTXH được các nhà tâm lý học khẳng định góp phần không nhỏ vào thành công của cá nhân trong cuộc sống. Đây là loại trí tuệ thể 1 hiện trong mối quan hệ tương tác giữa những cá nhân trong xã hội. Cá nhân được đánh giá là có sự phát triển về mặt TTXH khi tham gia vào các hoạt động và giải quyết được các nhiệm vụ do hoạt động đó đề ra trong sự tương tác với người khác.

TTXH góp phần quyết định sự thành công của mỗi người; nó không dành riêng cho một giai tầng xã hội nào và không mang tính bẩm sinh. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng trí tuệ xã hội (SQ) của sinh viên Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng-ĐHĐN, đề xuất một số khuyến nghị nâng cao các năng lực trí tuệ xã hội (SQ) cho sinh viên. Đối tượng nghiên cứu - Chỉ số trí tuệ cảm xúc của sinh viên trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng 4. Khách thể nghiên cứu - Sinh viên Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng-ĐHĐN.

Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận về trí tuệ xã hội của sinh viên. - Nghiên cứu thực trạng trí tuệ xã hội của sinh viên Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng-ĐHĐN. Phạm vi nghiên cứu - Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trí tuệ xã hội của sinh viên thể hiện ở 4 khía cạnh: Năng lực nhận thức xã hộI; Năng lực thích ứng hòa nhập môi trường xã hội; Năng lực thiết lập, duy trì các quan hệ xã hội và Năng lực giải quyết vấn đề trong các tương tác xã hội. - Về khách thể nghiên cứu: 161 sinh viên năm 1,2,3, 4 của Khoa Tâm lý- Giáo dục; Khoa Giáo dục Tiểu học và Khoa Giáo dục mầm non.

- Về địa bàn nghiên cứu: Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng-ĐHĐN - Về thời gian nghiên cứu: từ tháng 1 đến tháng 4/2024 7. Giả thuyết nghiên cứu Phần lớn sinh viên của Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng-ĐHĐN có trí tuệ xã hội ở mức thấp. Trong đó, sinh viên có năng lực thích ứng hòa nhập môi 2 trường xã hội và thiết lập, duy trì các quan hệ xã hội ở mức thấp nhất. Có sự khác biệt về mức độ trí tuệ xã hội ở các sinh viên theo phân loại khách thể.

Phương pháp nghiên cứu Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau: 8. Phương pháp nghiên cứu lý luận Tìm kiếm, thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau về nghiên cứu trí tuệ xã hội của sinh viên 8. Phương pháp trắc nghiệm Sử dụng trắc nghiệm để đánh giá mức độ trí tuệ xã hội của sinh viên. Phương pháp thống kê toán học Sử dụng phương pháp thống kê toán học, sử dụng phần mềm Microsoft Excel và SPSS để phân tích kết quả điều tra và dùng các công thức để tính toán xử lý các số liệu, kết quả nghiên cứu 9.

Cấu trúc của đề tài Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị; cấu trúc của đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về trí tuệ xã hội của sinh viên Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu về chỉ số trí tuệ xã hội của sinh viên Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng-ĐHĐN 3 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về trí tuệ xã hội của sinh viên 1. Trí tuệ xã hội ở nước ngoài Trên thế giới, những nghiên cứu về TTXH bắt đầu khi E. Thorndike lần đầu tiên đưa ra khái niệm “TTXH” dựa trên sự phân chia trí tuệ con người thành ba bộ phận bao gồm trí tuệ trừu tượng (abstract intelligence), trí tuệ kỹ thuật (mechanical intelligence) và TTXH (social intelligence).

Theo ông, TTXH liên quan đến năng lực của một cá nhân để hiểu, tương tác với người khác, để tham gia, hành động thích ứng với các tương tác xã hội. Kể từ đây, vấn đề TTXH đã được đông đảo các nhà tâm lý học như P. quan tâm nghiên cứu. Nhìn chung, có bốn cách tiếp cận lý thuyết TTXH: tiếp cận dựa trên khái niệm (definitional approach), tiếp cận tâm lý học (psychometric approach), tiếp cận thực nghiệm xã hội (social – experimental approach) và tiếp cận gián tiếp (implicit approach).

Các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ các khái niệm, cấu trúc, chức năng cũng như tầm quan trọng của TTXH đối với đời sống tâm lý của con người. [19], [27] Bên cạnh những nghiên cứu nhằm xác lập cơ sở lý luận cho TTXH, rất nhiều công trình nghiên cứu thực tiễn về vấn đề này đã được tiến hành. Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau: “Nghiên cứu về trí tuệ ngôn ngữ, TTXH của trẻ bình thường và trẻ chậm phát triển trí tuệ” được George Lane Wagaman tiến hành năm 1973 đã cho thấy trẻ chậm phát triển trí tuệ có điểm thấp hơn trẻ bình thường trong bài trắc nghiệm trí tuệ ngôn ngữ (ATCL). Tuy nhiên, điều đáng nói là trẻ chậm phát triển trí tuệ lại có điểm ngang bằng trẻ bình thường khi thực hiện các bài trắc nghiệm TTXH bằng phi ngôn ngữ.

[16] Đề tài “So sánh TTXH của trẻ em là con một trong gia đình với trẻ có anh chị em” của Manisha Goel và Preeti Aggarwal, được tiến hành trên 40 trẻ là con 4 một và 40 trẻ có anh chị em trong gia đình, hiện đang học lớp 9 và 10 ở khu vực NCR, Ấn Độ. Các tác giả đã đo lường TTXH thông qua 8 mặt biểu hiện bao gồm: sự kiên nhẫn, hợp tác, tự tin, sự nhạy cảm, nhận biết tình huống xã hội, ứng xử khôn khéo, hài hước và trí nhớ xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, TTXH của trẻ có anh chị em cao hơn so với trẻ là con một trong gia đình, đi sâu phân tích từng mặt biểu hiện cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa ở mặt biểu hiện của “sự kiên nhẫn” và “nhạy cảm”. [21] “TTXH và kết quả học tập – yếu tố dự báo sự tín nhiệm của vị thành niên” do nhóm nghiên cứu bao gồm N.

Spijkerman thực hiện trên 512 vị thành niên trong độ tuổi 14 – 15 ở trường cao đẳng nghề và dự bị đại học ở vùng Tây Bắc châu Âu. Kết quả cho thấy sự tín nhiệm có tương quan rõ rệt với TTXH chứ không phải là kết quả học tập. [22] Nghiên cứu về “TTXH, lòng tự tôn và tính nhạy cảm trong giao tiếp đa văn hoá” được các nhà tâm lý học Qingwen Dong, Randall J. Koper và Christine M.

Collaco thực hiện. Nghiên cứu này được tiến hành trên 419 SV của hai trường đại học ở miền Tây Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy có mối tương quan thuận về mặt thống kê giữa TTXH và tính nhạy cảm trong giao tiếp đa văn hoá; đồng thời, cả hai yếu tố của lòng tự tôn là giá trị bản thân và tính hiệu quả của cá nhân, đều có tương quan thuận với tính nhạy cảm trong giao tiếp đa văn hoá. [23] Nghiên cứu “Mối liên hệ giữa TTXH và việc sử dụng các biện pháp duy trì nề nếp lớp học của giáo viên” do S.

Md Yunus thực hiện. Mục đích của nghiên cứu nhằm phân tích mức độ TTXH của 203 giáo viên ở các trường công lập Malaysia dựa trên độ tuổi và các biện pháp duy trì nề nếp lớp học thường được sử dụng. Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa trong mức độ TTXH của giáo viên theo độ tuổi. Hơn nữa, kết quả nghiên cứu này cũng chỉ ra mối liên hệ giữa TTXH của giáo viên và sáu biện pháp duy trì nề nếp lớp học (thảo luận, công nhận, tham gia, gợi ý, trừng phạt, công kích).

[27] 5 Đề tài “TTXH và sự gây hấn của học sinh cuối cấp hai” do Sameer Babu M và J. Islamia thực hiện trên 84 học sinh trên địa bàn quận Malappuram, Ấn Độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy TTXH của các em tập trung ở mức trung bình và giữa các em thường xuyên xảy ra các cuộc xung đột, gây hấn. Kết quả này cũng cho thấy giữa TTXH và sự gây hấn của học sinh cuối cấp hai có mối quan hệ tương quan nghịch.

Khi so sánh kết quả theo giới tính cho thấy học sinh nữ có TTXH cao hơn so với học sinh nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ