Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về hoa vạn thọ 1.1 Nguồn gốc và phân loại Cây hoa cúc vạn thọ thuộc lớp hai lá mam (Dicotyledoneae), bộ Asteraleae, ho Asteraceae, phân ho cúc (Asreroideae), chi Cúc van tho (Chrysanthemum), loài van thọ Pháp (Marigold), giỗng Tagete có nguồn gốc từ Trung Quốc và Nhat Bản, du nhập sang Đài Loan và nhập nội về Việt Nam (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1978). Theo Lê Thị Thu Hương (2009), hoa vạn thọ chia thành bốn loài chính: - Loai vạn thọ Châu Phi: Tên khoa học là 7agefes erecta, tiếng Anh gọi là African Marigold. Đây thường là giống vạn thọ có chiều cao cây cao và to nhất. Đặc biệt là loài vạn thọ Ánh Nguyệt (Moonlight) có hoa kép, to, nở tròn xòe, cây cao khoảng 40 cm và mọc dày khít nhau, trổ hoa sớm như các giống van thọ lai.
Cây thường được sử dụng dé làm cảnh hoặc cắt cành cắm hoa. - _ Loài vạn thọ Pháp: Tên khoa học là 7age/es patula L., tên tiếng Anh gọi là French Marigold. Loài này thường hap dan hơn loài Châu Phi, hoa nhỏ hơn và đa dạng về màu sắc. Loài hoa này có thân thấp, chiều cao từ 30 - 50 cm.
- Loài vạn thọ nhỏ: Tên khoa học là Tagetes tenuifolia hay Tagetes signata. Cây nhỏ nên chỉ dùng làm viền ngoai bồn hoa cảnh. Hoa don cánh, hoa nhỏ, duong kính hoa từ 1 - 2 cm. Điển hình là loài Stafire Mix được trồng nhiều ở Âu My có đặc điểm là lá thơm mùi chanh bưởi, nhất là khi trời càng nắng nóng.
Chiều cao trung bình khoảng 30 cm. - _ Loài vạn thọ châu Mỹ gồm: + Loài lai Antigua Yellow là loài vạn thọ có hoa màu vàng tươi, hoa kép to, 3 đường kính hoa từ 7 - 8 cm. Sau 60 ngày gieo hạt, cây sẽ trổ hoa và hoa nở liên tiếp trong nhiều tháng, bền nhất trong các loài vạn tho. Cây mọc khít và cao 30 - 35 cm.
+ Loài lai Inca Hybrid có hoa kép và rat to, đường kính hoa từ 10 - 13 cm. Cây cao 50 - 70 cm, cũng ra hoa sớm và nụ hoa kéo dài, vẫn còn hoa khi các vạn thọ khác đã tàn. Chịu nhiệt độ lên đến 39°C - 40°C. Giống tam nhiễm lai triploid, thuộc nhóm Solar series F1 là giống phối hợp cây lùn của vạn thọ Pháp và hoa kép của vạn thọ Phi Châu, vừa chịu lạnh vừa chịu nóng.2 Đặc điểm thực vật học Theo Lê Thị Thu Hương (2009), cây hoa vạn thọ có các đặc điểm thực vật học như sau: Rễ của cây hoa vạn thọ thuộc loại rễ chùm, rễ ăn nông, phát triển theo chiều ngang.
Khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh do có nhiều rễ phụ, những rễ này không phát sinh từ mam rễ của hạt mà mọc từ mắt của thân ở những phần sát trên mặt đất. Thân vạn thọ là cây thân thảo hằng năm, mọc đứng. Vạn thọ Pháp có chiều cao từ 25 - 30 cm, phân nhánh nhiều, có cành nằm trải ra. Thân phân đốt rõ rệt, mỗi đốt mang một cặp lá và một cặp cành đối xứng nhau.
Số cành trên cây phụ thuộc vào số cặp lá chừa lại lúc bấm ngọn (chừa 4 - 5 cặp lá, cho 8 - 10 cành cấp 1 mang hoa chinh). Lá có dang lá kép lông chim lẻ, các lá chét nhỏ có hình thuyền, nhọn ở dau. Phién lá nhăn, mép lá có hình răng cưa. Lá mọc cách và thành vòng trên thân, mỗi cây có khoảng 60 - 80 cặp lá.
Hoa mọc đơn, mọc ở đỉnh, dạng đầu tỏa tròn. Hoa vừa tự thụ phấn, VừỪa giao phan với tỷ lệ nhỏ. Hoa bên ngoài không đều, cánh nhăn nheo xoắn lại với nhau, hoa ở giữa hình ống dẹp. Hoa vạn thọ Pháp có màu đỏ vàng, đường kính hoa khoảng 4 - 5 cm.
Vạn thọ có thời gian giữ hoa nở kéo dài khá lâu, ngay cả khi thân lá đã tàn. Quả thuộc dang quả bé khi hoa tàn sẽ dé lộ những quả bế có 1 - 2 vay ngắn do cánh hoa khô lại. Quả vạn thọ nhỏ và dài, có màu từ xám đên đen, quả khô chỉ chứa một hạt bên 4 trong. Hạt gồm vỏ bao lay nhân, hạt có phôi thăng và không có nội nhũ.
Hạt dài, thon ở hai đầu.3 Giá trị sử dụng Theo Joshi (2013), hoa vạn thọ được ví như một loài thảo mộc và được sử dụng rộng rãi trong dời sống hằng ngày. Một vài những công dụng chính của hoa vạn thọ: Về mặt xã hội và tôn giáo. Hoa vạn thọ được sử dụng một cách rộng rãi ở Ấn Độ trong các nghi lễ, buổi gặp mặt xã hội đặc biệt như đám cưới. Vì dé dap ứng nhu cầu lớn trong một khoảng thời gian ngắn với giá cả hợp lí, hoa vạn thọ dã dạt được một vi trí quan trọng đôi với các công ty hoa vừa và nhỏ.
Sử dụng như một loài cây bụi: Vì giống vạn thọ Pháp có chiều cao thấp và nhiều nhánh rậm rạp nên nó cũng được sử dụng như một loài cây bụi trong nhiều khu vuon. Sử dung như một loài cây dan dụ: Loài cây nay cũng được sử dung như một loài cây dan dụ và được trồng phía ngoài của cây trồng chính dé dẫn dụ côn trùng, bao vệ cây trồng chính. Côn trùng thường bị thu hút đến hoa vạn thọ và đẻ trứng lên đó. Ví dụ vạn thọ thường được trồng ở bìa của những ruộng cà chua hoặc cây bông.
Sử dụng trong am thực: Cánh hoa van thọ được sử dụng trong nhiều món ăn như các món súp, hâm hoặc làm bánh dé tăng hương vi. Dược tính: Hoa vạn thọ được coi như là một loài thảo dược có hiệu lực cao trong các mục dich y khoa như được sử dụng lam chat khử trùng cho các vân đê vé da như bi bỏng, bị viêm và bi cham. Loài thảo dược này còn được sử dung đê các bệnh vê chữa rối loạn tiêu hóa như ăn không tiêu, loét dạ dày, tiêu chảy. Thuốc trừ sâu: Ngoài những công dụng trên, hoa vạn thọ còn được sử dụng như một loại thuốc trừ sâu sinh học để phòng trừ nhiều loại côn trùng như muỗi, rệp, bọ nhảy và tuyến trùng.
Các giống vạn thọ sử dụng trong thí nghiệm chủ yếu được sử dụng với mục đích trang trí, tô điểm thêm vẻ đẹp cho khu vườn. Ngoài ra, một phần được sử dụng để chung trong các dip lễ, Tết hoặc ngày ram.4 Yêu cầu ngoại cảnh 1.1 Ánh sáng Theo Võ Ngọc Thanh Liêm (2012), ánh sáng có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự ra hoa và phân bố mầm hoa. Thời gian chiếu sáng kéo dài thì thời gian sinh trưởng của cây dài hơn, thân cao, lá to, chất lượng hoa tăng. Thời gian chiếu sáng ngắn sẽ kích thích phân hóa mầm hoa sớm vì vậy thân ngắn, chất lượng hoa kém.
Thời gian chiếu sáng lí tưởng cho cây vạn thọ là lớn hơn 12 giờ mỗi ngày. Cường độ ánh sáng trong thời kì sinh trưởng là 25.000 lux, thời kì phát triển là 35. Mỗi mùa vụ gieo trồng có một thời gian chiếu sáng khác nhau nên màu sắc hoa, kích thước hoa, chiều cao cây và sé lượng hoa có sự dao động theo từng mua vu gieo trồng.2 Am độ Theo Hoang Anh Lâm (2009).Cây yêu cầu âm độ đất 60 — 70%, am độ không khí 55 — 65%. Nếu am độ > 80% thì cây sinh trưởng mạnh nhưng lá dé bị mắc một số bệnh nam.
Thời ki thu hoạch thì cần thời tiết khô ráo. Nếu 4m độ kém thì cúc có thé vàng lá (Phạm Thị Minh Tâm và Nguyễn Phạm Hồng Lan, 2017). Mặc dù là cây ưa am, vạn tho cũng chịu hạn và chịu ung tốt. Cây sẽ phát triển tốt, cứng chắc ở những nơi đất nông và thoáng gió.3 Nhiệt độ Theo Võ Ngọc Thanh Liêm (2012), đối với cây hoa vạn thọ nhiệt độ lí tưởng là 26 — 30°C vào ban ngày va 20°C vào ban đêm.
Nhiệt độ vào ban đêm thấp hon 20°C giúp cây khỏe hơn, đường kính hoa lớn hơn. Nước tước Theo Võ Ngọc Thanh Liêm (2012), dùng nước ngọt có độ pH từ 6,5 đến 7,5 để tưới cho cây hoa, không dùng nước nhiễm phèn hay nhiễm mặn dé tưới cho cây. Van thọ trồng trong mùa nắng nên tưới hai lần trong ngày vào buôi sáng hay chiều mát, nhưng buổi chiều không nên tưới quá trễ sẽ làm cây đọng nước vào ban đêm, dé làm cây bị bệnh, buôi sáng nên tưới thật ướt, vào buôi chiêu chỉ cân đủ âm là được. Dat và giá thé Dat là một trong những yếu tố môi trường rat quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển của thực vật nói chung.
Là nơi nâng đỡ, cung cấp nước, chất dinh dưỡng và không khí cho cây trồng (Lê Trọng Hiếu, 2011). Đất có tầng hữu cơ dày, giàu dinh dưỡng, tơi xốp, khả năng giữ nước tốt, thoát nước nhanh và có độ pH gan trung tính (6 — 6,5) thích hợp cho việc trồng vạn thọ. Khi pH thấp, cây sẽ bị ngộ độc nhôm, sắt làm cây phát triển kém và chết đi. Điều kiện lý tưởng nhất là đất có nhiều mùn, có pha cát và giàu dinh dưỡng (Nguyễn Thị Thanh Thùy, 2001).
Một giá thê tốt và lý tưởng cho cây trồng cần có trữ lượng dinh dưỡng trong trạng thái cân bằng và dé dàng cung cấp cho cây. Phân bón dé dàng chuyền hóa thành dạng dễ hấp thu với cây trồng. Duy trì độ thoáng khí tốt. Khả năng giữ và cung cấp nước day đủ (Trương Thị Cam Nhung, 2016).
Yêu cầu về dinh dưỡng Theo Phạm Văn Dué (2005) nhu cầu N - P - K của Vạn thọ như sau: Đạm: cây cần đạm nhiều nhất ở giai đọan sinh trưởng thân lá đến khi bắt đầu phân hóa mam hoa. Dé đạt mức dinh dưỡng cân đối nên sử dụng phân đạm chung với phân chuồng hay phân vi sinh. Lượng đạm nguyên chất cho cây họ cúc cần từ 160 - 180 kg Nha. Lân: trong quá trình sinh trưởng của cây, cần nhiều lân vào giai đọan sinh trưởng sinh thực.
Phân lân giúp bộ rễ khỏe, thân cứng, hoa đẹp. Lượng phân lân nguyên chất cây họ cúc cần từ 100 - 140 kg P2Os/ha. Kali: giúp cây trao đôi và vận chuyền các chất, giúp lá quang hợp tốt, hoa bền va đẹp. Lượng phân Kali nguyên chat cây họ cúc cần từ 100 - 120 kg K2O/ha.
Phân vi lượng: Là loại phân cây cần rat ít nhưng không thé thay thế được. Các loại phân vi lượng thường được bón qua lá vào thời kỳ cây con với nồng độ rất thấp (từ 0,01 - 0,02%). Hiện nay, các loại phân được làm và pha chế bằng cách tưới phun qua lá, rất dé sử dụng. Lượng phân nguyên chất bón 2,2 kg N; 1,1 kg PaOs; 2,2 kg K2O cho 1.000 chậu hoa vạn thọ Pháp (RaJput, 2015).