Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc và sự phân bố cây đậu phộng Cây đậu phộng có tên khoa học là Arachis hypogaea L. Về nguồn gốc cây đậu phộng, còn có những ý kiến khác nhau. Một số nhà khoa học cho rang, cây dau phộng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Có người lại cho rằng cây đậu phộng có nguồn gốc từ Ai Cập.
Nhưng hiện nay, phần lớn các nhà khoa học đều cho rằng cây đậu phộng có nguồn gốc từ Braxin (Nam Mỹ) (Đường Hồng Dat, 2007). Cây đậu phộng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Nam Mỹ nhưng hiện nay từ vĩ tuyến 36° Bắc đến 36° Nam, đâu đâu cũng trồng đậu phộng. Ở Trung Quốc, đậu phộng còn được trồng ở vi tuyến 50° Bắc (Đường Hồng Dật, 2007) 1.2 Đặc điểm thực vật học 1.1 Rễ Rễ cây đậu phộng thuộc loại rễ cọc gồm có 3 phần là cổ rễ, rễ chính và rễ phụ. Phan lớn, rễ tập trung ở lớp đất sâu từ 3 — 18 cm (Chu Thị Thơm, 2006).
Giống như những cây họ đậu khác, rễ cây đậu phộng có nhiều nốt san. Dựa trên hiệu quả có định đạm, người ta chia là 2 loại là nốt san hữu hiệu và nốt san vô hiệu. Nét san hữu hiệu phân bố chủ yếu trên rễ chính và rễ ngang to thường có màu đỏ sam, có kha năng cố định đạm. Not san vô hiệu thường nhỏ hon nốt san hữu hiệu rất nhiều và thường phân bố ở khắp các loại rễ.
Có màu xanh nhạt, không có khả năng có định đạm (Đường Hồng Dật, 2007).2 Thân Thân mêm, lúc còn non thì tròn lúc già thì có cạnh và ruột rỗng. Thân chính có 2 thời kỳ sinh trưởng mạnh và nhanh là lúc cây bat dau ra hoa và lúc có nhiêu tia. Kê từ khi cây bat dau mọc, thân và cành mọc nhanh. Khi cây sắp ra hoa, thân mọc chậm 3 lại.
Từ khi ra hoa, thân lại mọc nhanh. Khi hoa gần tắt, thân mọc chậm rồi ngừng. Tùy theo mỗi giống, màu và độ lông của thân và cành thay đổi từ xanh, xám, tím hồng đậm hoặc hồng nhạt và có ít hoặc nhiều lông (Chu Thị Thơm, 2006).3 Lá Lá kép hình lông chim. Mỗi lá thường có 4 cũng có khi có 3 hoặc 6 lá chét.
Lá giữa cây to, lá gốc và ngọn nhỏ. Lá to nhất là lá thứ 5 — 6 ké từ ngọn trở xuống. Người ta thường lấy những lá này dé phân tích, chan đoán tình trạng dinh dưỡng của cây. Số lượng lá/ cây thay đổi tùy theo thời vụ.
Khi hoa gần tắt thì lá cũng không ra thêm nữa. Sau khi hoa tắt được vài ngày, bộ lá dan chuyển màu vàng, rồi khô rụng dan từ gốc lên ngọn cây (Chu Thị Thơm, 2006).4 Hoa Sau khi nảy mầm 20 — 30 ngày đậu phộng bắt đầu nở hoa. Hoa đậu phộng là hoa lưỡng tính có màu vàng. Hoa đậu phộng 90,0 — 99,9% tự thụ.
Cấu tạo hoa gồm năm bộ phận chính: lá bắc, lá đài, tràng hoa, nhị đực, nhụy cái. Một cây đậu phộng thường có từ 70 — 200 hoa nhưng tỉ lệ đậu quả thấp: 19 — 21% (Phan Gia Tân, 2005).5 Quả Quả dạng hình kén, dai 1 — 8 cm, rộng 0,5 — 2 cm, một đầu dính vào thư đài, khi khô hình thành cuống trái, đầu kia có dang cong cong gọi là mỏ quả. Phần giữa qua thắt lại gọi là eo quả: eo bụng và eo lưng. Ngoài ra, tùy giống mà trên vỏ quả có thê có gân hoặc không.
Vỏ quả chứa 27 — 28% lignin và chiếm 20 — 30% khối lượng quả, dày 0,3 — 2 mm và gồm 3 lớp: vỏ ngoài, vỏ trong mô cứng và vỏ trong có mô mềm (Phan Gia Tân, 2005).6 Hạt Hạt gồm ba bộ phận: Vỏ lụa, lá mam và mộng. Hạt đậu phộng có nhiều dạng như bầu dục, tam giác. Trong một quả có từ một đến sáu hạt, phần lớn hai hạt, hạt ở trước ngắn dài, bé, hạt ở sau ngắn, to. Độ lớn, hình dạng màu sắc hạt thay đổi tùy giống.
Hạt đậu phộng có tính miên trạng. Chọn giống vỏ mỏng, nhiều qua nhiều hạt có ý nghĩa tăng năng suất (Phan Gia Tân, 2005).3 Các yếu tố ảnh hưởng 1.1 Nhiệt độ Theo Đường Hồng Dat (2007), cây đậu phộng là loài cây có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, phát triển thích hợp trong điều kiện khí hậu ấm áp. Thời kì cây con, nhiệt độ trung bình ngày thích hợp là 23 — 30°C. Nhiệt độ thích hợp cho đậu phộng ra hoa là 24 — 33°C.
Tỉ lệ hoa có ích đạt mức cao nhất (21%) khi nhiệt độ ban ngày là 29°C và ban đêm là 23°C. Trong thời kì ra hoa kết quá, cây đậu phộng đòi hỏi nhiệt độ cao nhất so với các thời kì khác, nhiệt độ thấp nhất đối với quá trình ra hoa kết quả của cây đậu phộng là 15 — 20°C. Vào đoạn thời gian hạt chín, nhiệt độ thích hợp nhất là 25 — 28°C.2 Nước va độ 4m Nước và độ âm, nhất là độ âm đất là điều kiện chủ yếu đảm bảo cho sinh trưởng và phát triển của cây đậu phộng. Nhu cầu này thay đổi theo từng thời kì.
Từ khi gieo đến khi ra hoa đậu phộng tương đối cần ít nước. Từ khi bắt đầu ra hoa đến khi kết quả, nếu độ âm trong đất không đủ, bầu hoa không phát triển bình thường, khó kết quả và số hoa sẽ giảm. Thời kì qua già, chín có nhu cầu nước giảm dan. (Đường Hồng Dat, 2007) Ở vùng trồng đậu phộng thích hợp, lượng mưa trung bình hằng năm trong khoảng từ 1.000 mm thì đậu phông cần được tưới nước.
Trong một vụ, nếu tính riêng cho nhu cau sinh trưởng thi cây đậu phộng chỉ cần lượng mưa từ 500 — 600 mm, nếu lượng mưa trung bình ít hơn 350 mm thì cây đậu phộng cần được tưới nước, nhất là vào lúc ra hoa rộ và kết quả (Đường Hồng Dat, 2007).3 Ánh sáng Cây đậu phộng có những phản ứng nhất định đối với tác động của ánh sáng. Các thời kì sinh trưởng khác nhau có phản ứng khác nhau với ánh sáng. Ở thời kì nảy mầm, ánh sáng làm giảm tốc độ sinh trưởng của rễ phôi và trục phôi. Trong quá trình phát triển của quả đậu phộng, nếu được phơi ra ánh sáng, chúng sẽ phát triển kém, thậm chí tia đậu phộng không thể phình ra dé làm quả được (Đường Hồng Dat, 2007).4 Các đặc tính của đất Đậu phộng là cây trồng không có yêu cầu nghiêm khắc với các đặc tinh của đất, có khả năng thích ứng với các loại đất khác nhau.
Các loại đất từ cát nhẹ đến sét nặng đều có thé trồng đậu phông. Nhưng thích hợp hơn cả là đất cát pha, nhẹ, xốp, sáng màu. Dat trồng đậu phộng tốt nhất là các chân đất thoát nước tốt, kết cau xốp và mịn, chưa bị rửa trôi màu. Cây đậu phộng phát triển tốt trên các chân đất có phản ứng trung tính, tốt nhất là độ pH không thấp hơn 6 (Đường Hồng Dat, 2007).4 Phân bón vi lượng 1.1 Vai trò của phân bón lá vi lượng Đối với cây trồng, phân vi lượng vô cùng quan trọng.
Nó quyết định đến sự phát triển và độ bền, năng suất của cây trồng. Việc thiếu hay thừa phân vi lượng đều rất ảnh hưởng đến cây trồng. Chúng ta cần quan tâm dé ý đến cây trồng dé có thé cung cấp đủ vi lượng cần thiết cho cây trồng (Nguồn: Internet). Tác dụng phân bón vi lượng: Bồ sung vi lượng cần thiết cho cây trồng, ôn định pH và kích thích ra rễ cực mạnh giúp cây sử dụng phân bón hiệu quả, tăng tốc độ vận chuyền dinh dưỡng, giúp quả lớn nhanh, đồng đều, tăng năng suất và phâm chất nông sản (N guon: Internet).2 Phan bón lá Verno Phân bón lá Verno được làm từ các muối đinh dưỡng tự nhiên được lựa chọn cần thận và ít hòa tan như oxit và cacbonat.
Các thành phần được phối trộn với các chất phân tán có nguồn gốc tự nhiên và được vi thành các hạt nhỏ hơn, phân bố tốt và bám dính tốt trên bề mặt thực vật. Sự kết hợp độc đáo của các chất dinh dưỡng trong Verno kích thích đáng kể các quá trình sinh lý của cây trồng (Nguồn: Internet). Verno là dạng hat phân tán trong nước độc đáo và có độ đậm đặc cao dé đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm thân thiện với người dùng và tiêu tốn ít năng lượng hơn cho việc vận chuyền và xử lý. Verno được bào chế dưới dạng các hạt nhỏ, đồng nhất, dễ đo lường.
Các hạt này phân tán nhanh chóng trong nước. Khi thêm vào nước, kết quả là tạo ra một huyền phù mịn của các hạt. Verno có san trong một số công thức kết hợp các nồng độ khác nhau của đồng, kẽm (Nguồn: Internet). Đồng (Cu) là một nguyên tố vi lượng cần thiết cho nhiều chức năng của thực vật.
Nó là chất xúc tác trong cả quang hợp và hô hấp, và chịu trách nhiệm về độ bền cấu trúc của tế bào. Hơn nữa, đồng tham gia vào quá trình chuyên hóa carbohydrate và protein, kích thích sự trưởng thành và phát triển của ống phan, do đó đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành hoa và hạt. Thiếu đồng gây ra sự chậm trưởng thành và già côi, ảnh hưởng đáng kê đến năng suất hạt. Thân cây bị cong và dé bị bệnh cũng là hậu quả của việc thiếu đồng (Nguồn: Internet).
Kẽm (Zn) cần thiết cho nhiều chức năng của thực vật. Bên cạnh vai trò chính trong việc hình thành hormone tăng trưởng auxin, kẽm còn được biết đến với ảnh hưởng tích cực trong quá trình tổng hợp mRNA, đồng thời làm cho màng tế bào dễ thâm thấu hơn, cần thiết cho sự hình thành chất điệp lục và carbohydrate (tinh bột) và cho sự phát triển thích hợp của rễ. Sự thiếu hụt kẽm ở thực vật làm rối loạn trao đổi auxin nên sinh trưởng bị ức chế, sinh trưởng chậm, lá cây bị biến dang nhỏ, ngắn và xoăn, đốt ngắn và biến dạng (Nguồn: Internet).5 Những nghiên cứu về phân bón lá trên cây đậu phộng trong và ngoài nước 1.1 Những nghiên cứu trong nước Nguyễn Đình Thi và ctv (2010) đã nghiên cứu ảnh hưởng của B đến sinh trưởng và năng suất đậu phộng trồng trên đất cát. Kết quả cho thấy, so với đối chứng, năng suất quả đậu phộng có thể tăng tới 17,32% - 18,34 % khi được xử lý B.
Nồng độ B thích hợp nhất cho đậu phộng trồng trên dat cát ở Thừa Thiên Huế là 0,03% và thời kì xử lý có hiệu quả nhất là phun lên lá vào giai đoạn kết thúc ra hoa. Theo Lê Vĩnh Thúc và ctv (2014), khi phun N ở những thời điểm khác nhau không làm ảnh hưởng đến chiều dài rễ, số nhánh, số hạt chắc trên quả của cây đậu phông.