Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây đậu đen Đậu đen (Vigna cylindrica L.) có nguồn gốc Nhiệt đới va A nhiệt đới. Theo Vanvilop đậu đen được phát sinh từ trung tâm An Độ và trung tâm Trung Á. Đậu đen được trồng nhiều ở một số nước Châu Á (Án Độ, Pakistan, Myanma, Trung Quốc), Châu Phi (Madagasca, Gana) và một số nước Châu Mĩ. Ở nước ta đậu đen được trồng nhiều ở phía Bắc.
Mùa thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 6. Ngoài ra ở Campuchia cũng trồng nhiều giống đậu này, đậu đen được trồng nhiều ở Châu Phi và Châu Á. Về phân loại khoa học, cây đậu đen xanh lòng thuộc bộ Fabales, họ Fabaceae, tông Phaseoleae, chi Vigna, loài Vigna cylindrical. Hạt đậu den được xem là loại thực phẩm vừa co giá trị bổ dưỡng vửa là bài thuốc thanh lọc và làm mát cơ thể.
Hạt đậu đen được sử dụng trong các món ăn: cháo đậu den, xôi đậu đen, chè đậu đen, thit ham đậu đen, nấu bánh hay chế thành dau xi. Thanh phần dinh dưỡng trong một nửa chén đậu đen nấu chin (86 g) chứa gần 114 kilocalories, 7,62 g protein, 0,46 g chat béo, 20,39 g carbohydrate va 7,5 g chat xo. Trong đậu đen cũng chứa da dang các chat dinh dưỡng thực vat như saponin, anthocyanin, kaempferol va quercetin, tat cả đều có nhưng tác dụng là đặc tính chống oxy hóa.2 Đặc điểm thực vật học của cây đậu đen Theo Hồ Đình Hải (2014), cây đậu đen có một số đặc điểm thực vật học: 1.1 Rễ Rễ đậu đen thuộc loại rễ cọc, xung quanh có các rễ con mọc ra. Rễ cái ăn sâu xuống đất khoảng 20 — 30 cm và có thé mọc ra 30 — 40 rễ con.
Rễ phát triển theo chiều ngang và tập trung nhiều ở lớp đất mặt từ 0 — 20 cm. Từ rễ con lại mọc ra nhiều rễ 3 nhánh khác làm nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng dé cây hap thụ. Trên rễ đậu đen có nhiều nốt san. Nốt san hình thành là do sự cộng sinh giữa rễ cây đậu den với vi khuẩn Rhizobium sp.2 Thần và cành Đậu đen là cây thân thảo, thân cây yếu, mọc thắng đứng có khi hơi nghiêng.
Sau khi lá mầm lên khỏi mặt đất và xòe ra, thân lúc này màu trắng và giòn, dễ gãy. Trong thời gian đầu thân cây mọc chậm. Khoảng 25 — 35 ngày sau gieo trở đi, thân phát triển khá nhanh cho đến lúc ra vòi, các đốt dài ra và nhỏ đi. Khi cây ra hoa và hình thành quả, sự phát triển của thân ngừng lại.
Cây đậu đen trung bình cao 20 — 25 cm và vòi dai 40 — 50 cm.3 Lá Lá đậu đen trơn, không có lông tơ bao phủ, cuống lá đài 4 - 5 cm, có khi đến 15 - 20 cm, thường cuống lá trên thân và ở các tang dưới dài hơn so với trên cành va tang trên. Lá có dạng lá chét hình trứng dai 5 - 8 cm, rộng 2 - 5 cm, lá phía dưới to, phía trên gần vòi lá càng nhỏ, ở chỗ cuống lá mọc từ thân hoặc từ cành đôi khi có hai lá phụ nhỏ. Trung bình một cây có 8 - 10 lá kép thì thân bắt đầu ra vòi. Lá đậu đen thường hướng về phía có anh sáng một cách 16 rệt.4 Hoa Hoa mọc thành từng chùm ở các mắt trên thân hoặc trên cành.
Cuống hoa đài 7 - 10 cm, những cuống hoa ở mắt dưới thường dài hơn cuống hoa ở mắt trên. Một chùm hoa thường có 2 - 8 hoa, nhưng chỉ có 2 - 3 hoa nở được thành quả.5 Quả Quả đậu đen thuộc loại quả giáp, hình trụ, dai từ 8 — 10 cm, có dang quả hơi đẹp, có 2 gân nôi rõ dọc theo hai bên cạnh quả. Khi quả đậu đen còn non có màu xanh, đến khi chín có màu nâu vàng hoặc xám đen. Vỏ quả khi chín nếu gặp nhiệt độ cao có thé tach làm hat rơi ra.
Quả đậu đen chín rải rác, có khi kéo dài đến 20 ngày tùy thuộc vào thời vụ gieo trông.6 Hạt Hạt đậu đen có hình trụ, thuôn, tròn đều, có màu đen, nằm ngăn cách nhau bằng những vách xốp của quả. Mỗi quả có từ 8 đến 15 hạt. Khối lượng hạt của mỗi cây cũng biến động từ 20 — 90 g tùy giống, thời vụ và chế độ canh tác. Khối lượng hạt biểu thị bằng g/1000 hat cũng thay đổi nhiều từ 35 — 80 g/1000 hạt.3 Vai trò của các nguyên tố vi lượng trên cây họ đậu Vai trò của phân bón lá ngày càng tăng do việc sử dụng lâu dai các nguyên tố đa, trung lượng mà không có bổ sung các chất vi lượng.
Nhiều nguyên tố, nhất là vi lượng dé bị kết tủa khi thay đổi môi trường đất và cũng dé bị rửa trôi nên việc đưa các nguyên tố nảy vào cây trồng thông qua lá là phương pháp hiệu quả. Trong thành phan chất dinh dưỡng của phân bón lá ngoài các nguyên tố đa lượng như đạm, lân, kali còn có các nguyên tố trung lượng và vi lượng như Fe, Zn, Cu, Mg, Bo, Mn, các nguyên tố này tuy có hàm lượng ít nhưng lai giữ vai trò rất quan trọng vì trong môi trường đất thường thiếu hoặc không có. Do do, khi bổ sung các chất này trực tiếp qua lá sẻ giúp đáp ứng dư nhu cầu và cân đối dinh dưỡng cho cây nên tao điều kiện cho cây phát triển đầy đủ trong từng giai đọan sinh trưởng. Phân bón lá có tác dụng đặc biệt trong những trường hợp cần bổ sung khẩn cấp chất dinh dưỡng dam, lân, kali hay các nguyên t6 trung, vi lượng.4 Giới thiệu sơ lược về phân bón lá Phân bón lá những chất hoặc hợp chất hữu cơ hoặc vô cơ có chứa một hay nhiều chất dinh duỡng thiết yếu được đưa vào trong sản xuất nông nghiệp với mục đích chính là cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng nhằm giúp chúng sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao.
Phân bón lá được sử dụng ở Viêt Nam từ đầu những năm 1980 của thế kỷ trước, tuy nhiên phải dén năm 2000, thuật ngữ phân bon lá mới được chính thức đề cập trong các văn bản pháp qui của Nhà nước (Bui Huy Hien vá ctv, 2013) Việc sử dụng phân bón lá được xem như phương pháp bón phân bồ sung hoặc dùng chữa trị các loại bệnh sinh lý thực vật do sự xáo trộn hoặc thiếu chất dinh dưỡng đất đai, làm ảnh hưởng đến các chất kích thích trong cây, ảnh hưởng đến khả năng hấp 5 thụ của hệ thống rễ và sự phát triển của cây. Mặc khác kích thích sự phát triển cây hoặc rễ củ trước khi trỗ bông, tăng quang hợp tăng tính chống chịu, tăng năng suất va phẩm chat, hạn chế sâu bệnh (Trần Văn Dat, 2004). Phân bón lá có thể gồm các chất dinh dưỡng chính như chất đạm, lân, canxi (Ca) và các chất vi lượng như chất sắt (Fe), kẽm (Zn), đồng (Cu), boron (B), mangan (Mn), Magie (Mg) và ca chất kích thích tô. Trên thị trường người ta tìm thấy các phân bón lá đưới hình thức đơn chất hoặc hop chất giữa chất dinh dưỡng và chất kích thích tố.
Phân bón lá còn được phối hợp với thuốc sát trùng hoặc sát khuẩn, nhằm tăng hiệu năng của phân bón lá trong lĩnh vực bảo vệ mùa màng và đông thời bớt tốn kém trong khi áp dụng. Tuy nhiên sự phối hợp các chất này cần được nghiên cứu về hóa tính hỗ tương giữa các chất kích thích tố khi áp dụng. Do đó khi sử dụng phân bón lá đòi hỏi sự hiểu biết chính xác về tinh trạng dinh dưỡng đất đai của mình, các cau tô của phân bón lá và các phương pháp, điều kiện áp dụng phân bón lá thích ứng dé nâng cao mức độ hữu hiệu (Trần Văn Đạt, 2004). Theo Nguyễn Huy Phiêu (2007) sử dụng phân bón lá có những ưu điểm sau: Chất dinh dưỡng được cung cấp cho cây nhanh hơn phân bón gốc, có thể khắc phục nhanh tình trạng thiếu dinh dưỡng của cây trồng, đặc biệt đối với phân vi lượng.
Hiệu suất sử dụng dinh dưỡng cao hơn, trong phân bón lá hiện nay ngoài các yếu tố đa, trung, vi lượng còn được bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng như IAA, NAA, các vi sinh vật có ích, tạo nên chức năng của phân bón lá. Chi phí thấp hơn, giảm được công vận chuyền và công phun thuốc. Ít ảnh hưởng đến môi trường và đất trồng. Dùng phân bón lá, lượng bón chi tốn bằng 1⁄4 so với phân bón qua đất.
Theo Nguyễn Bảo Vệ (1999) việc sử dụng phân bón lá có một số nhược điểm sau: Dễ bị rửa trôi khi gặp điều kiện mưa bão. Dinh dưỡng bám vào nơi không đúng mục đích gây thiệt hại. Dễ gây oxi hóa hay phân hủy các chất xúc tác bề mặt đối với các hợp chất hữu co man cảm, xảy ra trước khi thâm qua biêu bì. Theo Nguyễn Ngọc Trì (2007), cơ chế của việc hấp thu dinh dưỡng qua lá bao gồm các đặc điểm sau: Sự hấp thu dinh dưỡng khoáng khi phun phân qua lá được gọi là dinh dưỡng lá.
Dung dịch khoáng phun trên lá cây khi có tác nhân làm ướt thì có thé 6 theo con đường khí khổng hoặc cutin xâm nhập vào trong tế bào nhu mô lá và hầu hết tích lũy lại trong lá. Mức độ xâm nhập dinh dưỡng vào lá phụ thuộc vào câu trúc, hình dáng lá, loại phân bón, tuổi cây và tuổi lá, nồng độ phân và pH dung dịch khi phun. Giá trị của phân bón lá phụ thuộc nhiêu vào các chất hoạt động bề mặt. Âm độ, nhiệt độ, ánh sáng lúc phun phân và giai đoạn sau đó có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả hấp thu phân.
Theo Trần Văn Dat (2004), phân bón lá là loại phân được sử dụng dé bổ sung dinh dưỡng chứ không phải để thay thế phân bón đất. Việc sử dụng phân bón lá như thế nào cho có hiệu quả là câu hỏi cần lưu ý cho người sử dụng. Nếu có điều kiện, sự phân tích dat đai và lá cây dé xác định tình trạng dinh dưỡng của đất và cây trước khi áp dụng phân bón lá là điều cần thiết. Cần bón phân theo các nguyên tắc sau: Đúng loại phân cho từng loại cây trồng.
Sử dụng phân bón lá với nông độ chính xác: phân bón lá thường ở dạng đậm đặc, do đó khi sử dụng nên pha đúng nồng độ chỉ dẫn, việc phun quá nồng độ sẽ gây ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng, như ngộ độc, cây mọc vong, gây đột biến. Phun đúng lúc cho từng giai đoạn sinh trưởng của cây. Phun phân bón lá đúng chỗ và đồng đều.