Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây ớt 1.1 Nguồn gốc phân loại cây ớt Nguồn gốc: Cây ớt có tên khoa học Capsicum annuum var. thuộc họ cà Solanaceae, có nguồn gốc từ Mexico, Nam và Trung Mỹ. Ớt được gieo trồng phổ biến từ vùng Địa Trung Hải đến nước Anh năm 1548 và đến Trung Âu vào cuối thé kỷ 16. Sau đó, Người Bồ Dao Nha mang ớt từ Brazin đến An D6 năm 1885 và việc trồng ớt được biết đến ở Trung Quốc khoảng cuối năm 1700, ớt được nhập và Triều Tiên khoảng cuối thế kỷ 17 (Mai Thị Phương Anh, 1999).
Phân loại: Theo Mai Thị Phương Anh (1999), có 5 loại ớt được trồng trọt chính trong tổng số 30 loài ớt, đó là: loài Capsicum annuum L. chinense Jacquin, loài C. pubescens Ruiz and Pavon.2 Đặc điểm thực vật học Theo Mai Thị Phương Anh và ctv (1996), cây ớt có đặc điểm thực vật học: Rê: ré cọc, phát triên mạnh với rat nhiêu rê phụ. Khi cây chuyên hệ làm rê cọc bi đứt và trở thành hệ rễ chùm phát triển dài ra.
Thân: thân ớt cay thuộc loại thân gỗ, thân tròn, dễ gãy, một số giống còn non thân có lông mỏng. Khi thân già, phần sát mặt đất có vỏ xù xì, hóa ban. Thân chính cây ớt dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, thường biến động 20 - 40 cm thì ngừng sinh trưởng. Cây ớt phân tán mạnh, kích thước tán thay đồi tùy theo điều kiện canh tác và giống.
La: lá ớt là một đặc điểm quan trọng dé phân biệt các giống. Lá ớt mọc đơn, đôi khi mọc thành chùm hình hoa thị, có hai dạng chủ yếu: dang elip (bầu dục) và dạng lưỡi mác, thường có mau xanh đậm hoặc xanh nhạt. Phiên lá nhẫn không có răng cưa, đầu lá 3 nhọn, gân lá nỗi rõ, phân bố dày và so le. Lá ớt nhiều hay ít có ảnh hưởng đến sản lượng quả.
Lá ít không những ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây mà còn làm cho ớt ít quả vì ở mỗi nách lá là vị trí ớt ra hoa. Hoa ot: hoa lưỡng tính, mọc đơn hoặc mọc thành chùm 2 - 3 hoa, thường nở vào buổi sáng lúc 7 - 9 giờ. Cuéng hoa màu xanh, cánh hoa thường có màu trắng (5 - 7 cánh/hoa). Căn cứ vào đặc tính ra hoa, ớt được chia thành hai 2 loại: + Loại hình sinh trưởng vô hạn: khi có nhánh đầu tiên thì hoa xuất hiện, sau đó tiếp tục ra hoa khi xuất hiện các cấp cành, cây tiếp tục sinh trưởng cho đến khi chết.
Đa sô các giông ớt có năng suât cao hiện nay déu thuộc loại hình sinh trưởng vô han. + Loại hình sinh trưởng hữu hạn: khi cây xuất hiện cành thứ nhất thì có hoa đầu tiên. Hoa tiếp tục xuất hiện trên các cành thứ cấp, khoảng đến cành cấp 4, cấp 5 thì cuối ngọn xuất hiện chùm hoa cuối cùng và cây ngừng sinh trưởng chiều cao. Hiện nay loại nay nước ta ít sử dụng.
Quả và hạt ớt: quả ớt thuộc loại qua mong, nhiều nước, có 2 - 3 ô cách nhau bởi vách ngăn đọc theo trục quả. Nửa quả gần cuống to hơn và chứa nhiều hạt hơn nửa quả phần ngọn. Hạt ớt ớt nằm tập trung xung quanh lõi của quả. Qua ớt chín có màu đỏ, vàng hoặc tím đen và có nhiều dang quả khác nhau.
Hạt ớt nhẫn, dep, có màu vàng, trọng lượng 1. Sức nảy mầm của hạt giống khá cao nếu bảo quản tốt và có thé giữ được 2 - 3 năm.3 Yêu cầu ngoại cảnh Nhiệt độ có ảnh hưởng đến sinh trưởng, số hoa, tỷ lệ đậu quả. Nhiệt độ ngày/đêm bằng 25°C/18°C là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của cây ớt nói chung, tăng năng suất và tăng số quả thương phẩm. Nhiệt độ ban đêm thấp (8 - 15°C) thường làm giảm tỷ lệ đậu quả và sinh quả không hạt.
Nhiệt độ ban đêm thích hợp nhất là 20°C trong giai đoạn nở hoa. Ngoài ra nhiệt độ thấp còn làm giảm kích thước và dạng quả. Nói chung, cây ớt thích nhiệt độ cao hơn, dao động trong khoảng 20 - 30°C (Mai Thị Phương Anh, 1999). Ánh sáng: cây ớt ưa cường độ ánh sáng mạnh, thiếu sáng kết hợp nhiệt độ không khí thấp, cây con sinh trưởng khó khăn, vươn dai, mọc véng, quá trình phân hóa mam 4 hoa cũng bị ảnh hưởng.
Ớt là cây trồng không mẫn cảm với quang chu kỳ (ở nước ta ớt có thê trồng được quanh năm). Tuy nhiên, trong điều kiện ánh sáng ngày ngắn (9 - 10 giờ/ngày) sẽ kích thích cây sinh trưởng, tăng năng suất từ 21 - 24% (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996). Độ ẩm: cây ớt rất thích hợp ấm, ầm nhưng trong điều kiện khô hạn sẽ kích thích quá trình chin của quả. Gt là cây chịu han, ẩm độ đất thấp không anh hưởng đến tỷ lệ đậu quả nhưng tăng tỷ lệ rụng quả.
Nếu âm độ đất khoảng 10% tăng tỷ lệ rụng quả lên đến 71% trong khi âm độ từ 55 - 58% tỷ lệ rụng qua chỉ còn 20 - 30%. Nếu âm độ thấp hơn 70% ở giai đoạn ra hoa, hình thành quả thì quả sẽ bi san sùi, giảm giá trị thương phẩm. Tốt nhất duy trì âm độ đồng ruộng khoảng 70 - 80%, nếu 4m độ quá cao rễ sinh trưởng kém, cây còi cọc (Mai Thị Phương Anh, 1999). Đất và dinh dưỡng: cây ớt không kén đất, tuy vậy đất cần nhiều mùn, không chua mặn, thoát nước tốt.
Đất phù hợp nhất là đất thịt nhẹ, giàu canxi, ớt cũng có thê sinh trưởng, cho năng suất ở trên đất cát nhưng phải đảm bảo chế độ nước và phân bón đầy đủ. Đất chua và kiềm đều không thích hợp cho ớt sinh trưởng và phát triển, cây sinh trưởng trên đất màu mỡ thì tính chín sớm bị ảnh hưởng. Ớt là cây chịu mặn, hat có thể nảy mầm ngay cả ở nồng độ muối 400 ppm và pH = 7,6 (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).4 Giá trị sử dụng Ớt là một loại rau quả, làm gia vi rất cần thiết trong mỗi bữa ăn của con nguoi, ớt có nhiều chất dinh dưỡng dễ tiêu hóa như đường, đạm, caroten (tiền vitamin A), các sinh tố khác như acid citric, vitamin C, Bị, Ba. Theo Đỗ Tất Loi (2004), trong ớt chứa chất capsaicine, là một ankaloid chiếm tỉ lệ khoảng 0,05% - 2%, tạo vi cay, kích thích vị giác.
Vitamine A và C trong ớt đứng đầu trong các loại gia vị. Thành phần dinh dưỡng của ớt (vỏ quả) là hoạt chất gây đỏ, nóng, chỉ xuất hiện khi quả ớt vừa chín chiếm tỉ lệ từ 0,01% - 0,1%, không mau và kết tinh có tên gọi là Capsaicine (CisHz7NO:) hàm lượng của nó phụ thuộc vào tùy loài giống. Quả còn chứa một loại dầu có màu đỏ, không cay, năng suất chiết xuất 20 - 25% dịch chiết Alcoholic (trích dẫn bởi Mai thi Phương Anh và ctv, 1996). Thanh phan trong ớt đỏ gồm: chất khô 22,01%, Axit acorbic 131,06 mg/100 g (trọng lượng tươi), chất khô có màu 67,38 đơn vi ASTA, capsaicin 0,34% (trọng lượng khô), chất xơ thô 26,75% và tro tổng số 6,69%.
Nhìn chung, vai trò của ớt ngày nay đã được khăng định, ngoài sử dụng như một loại thực phẩm, gia vị, y học, ớt còn được sử dụng như một loại cây cảnh để trang trí.2 Tổng quan về phân bón lá 1.1 Khái niệm phần bón lá Theo Trần Thị Thu Hà (2009), phân bón lá là loại phân được sản xuất ở dang nước hoặc được hòa tan trong nước và phun lên lá nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Theo Bộ NN và PTNT (2021), phân bón lá là loại phân thuộc các nhóm phân bón hóa học, phân bón hữu cơ, phân bón sinh học mà các loại phân bón này được sử dụng để cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua thân, lá.2 Phân loại phân bón lá Theo Bộ NN và PTNT (2019), phân bón lá được phân loại theo chỉ tiêu chất lượng chính đăng ký trong quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam thuộc một trong ba nhóm phân bón là phân bón lá vô cơ, phân bón lá hữu cơ và phân bón lá sinh học. Phân bón lá theo dang lỏng và dang ran; phân bón lá có chất điều hòa sinh trưởng, chat tăng hiệu suất sử dung đất hiếm và có khả năng tăng miễn dịch cây trong; phân bón lá không có chất điều hòa sinh trưởng, chất tăng hiệu suất sử dụng, đất hiếm và phân bón lá không có khả năng tăng miễn dịch cây trồng. Theo Bùi Huy Hiền và ctv (2013), có thể chia phân bón lá thành các nhóm theo dạng, thành phần dinh dưỡng va theo cơ chế liên kết các nguyên tố dinh dưỡng.
Theo dạng thì phân bón lá được chia thành: dang ran và dạng lỏng; theo thành phan có thé chia phân bón lá thành 3 nhóm: chỉ có các yếu tố đinh đưỡng vô cơ riêng lẽ hoặc phối hợp (đa lượng, trung lượng và vi lượng), có bd sung chất điều hòa sinh trưởng (kích thích, ức chế), có thuốc bảo vệ thực vật; theo cơ chế liên kết các nguyên tố dinh dưỡng thì phân bón lá được chia thành 2 nhóm: dạng vô cơ và dạng hữu cơ (trong đó có chelate) và hữu cơ - khoáng.3 Vai trò của phân bón lá Vai trò của phân bón lá trong canh tác hiện nay ngay càng quan trọng, việc canh tác liên tục sẽ kiến cho môi trường đất thiếu hụt các nguyên té đa lượng, trung lượng đặc biệt là các nguyên tố vi lượng, hơn nữa các nguyên tố vi lượng sẽ dé bi kết tủa trong môi trường và chịu sự rửa trôi nên việc đưa các nguyên tô nay thông qua lá sẽ mang lại sự hiệu quả hơn việc cung cấp chúng qua đất. Mục tiêu chính khi sử dụng phân bón lá: - Bồ sung thêm các chất dinh dưỡng còn thiếu mà đất và phân bón đa lượng không thể cung cấp đủ. - Giúp cây trồng khắc phục các hạn chế khi việc cung cấp dinh dưỡng qua đất bị ảnh hưởng của nhiệt độ, cường độ chiếu sáng, phản ứng của đất, hoặc xuất hiện các yếu tố đinh dưỡng đối kháng. - Cung cấp các chất dinh dưỡng theo hướng tăng cường chức năng, nhất là trong các giai đoạn sinh trưởng sinh thực của cây trồng (hình thành quả, củ, chỉ tiêu chất lượng).
- Hạn chế mất chất dinh dưỡng trong dat do bị có định hoặc bị rửa trôi. Một số nguyên t6 dinh dưỡng, thậm chí được khuyến cáo chỉ nên bón qua lá như bón sắt vào đất kiềm, bón các nguyên tổ vi lượng (Bùi Huy Hiền và ctv, 2013).