Đặt vấn đề Cây sắn có tên khoa học (Manihot esculenta Crantz) là cây lương thực, thực phẩm chính của hơn 500 triệu người trên thế giới. Sắn đồng thời cũng là cây thức ăn giá súc quan trọng của nhiều nước trên thế giới, cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến bột ngọt, rượu, cồn, bánh kẹo, mì ăn liền và nhiều sản phẩm khác nhau. Đặc biệt trong việc nghiên cứu phát triển sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học đang được các quốc gia trên thế giới quan tâm bởi các lợi ích của loại nhiên liệu này đem lại mà cây sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến sinh học (ethanol). Năm 2014, sản lượng sắn toàn thế giới đạt hơn 268 triệu tấn với diện tích trồng hơn 23,86 triệu ha và năng suất bình quân là 13,04 tấn/ha (FAOSTAT, 2017).
Sắn là một cây lương thực dễ trồng, khả năng thích ứng rộng và trồng được trên những vùng đất nghèo, không yêu cầu cao về điều kiện sinh thái, phân bón, chăm sóc. Nó được trồng rộng rãi ở 30o Bắc đến 30o Nam và được trồng ở trên 100 nước nhiệt đới thuộc 3 châu lục lớn là Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á (Phạm Văn Biên và cs, 1991)[2]. Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng đứng hàng thứ ba sau lúa và ngô. Cây sắn hiện nay đã chuyển đổi vai trò từ cây lương thực, thực phẩm thành cây công nghiệp hàng hóa có lợi thế cạnh tranh cao.
Tinh bột sắn Việt Nam đã trở thành một trong bảy mặt hàng xuất khẩu có triển vọng và đứng thứ hai trên thế giới. Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm khoảng 600.000 tấn tinh bột sắn, trong đó trên 70% xuất khẩu và gần 30% tiêu thụ trong nước (Trần Ngọc Ngoạn, 2007)[9]. Sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là tinh bột, sắn lát và bột sắn. Thị trường tiêu thụ chính là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo và Hàn Quốc.
Năm 2014, diện tích sắn Luan van 2 trên toàn quốc đạt 552,76 nghìn ha, năng suất bình quân 1,85 tấn/ha, sản lượng là 10,21 triệu tấn (FAO STAT, 2016). Cả nước hiện có 41 nhà máy chế biến tinh bột sắn. Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Đất đai của Yên Bái đa dạng về chủng loại, đất nông nghiệp chiếm tới 79,59% tổng diện tích tự nhiên, nhưng phần lớn diện tích là đât dốc.
Độ dốc trung bình 25 – 300, có nơi độ dốc trên 450. Cây trồng nông nghiệp trên đất dốc chủ yếu là cây sắn, được trồng nhiều nhất tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Ở tỉnh Yên Bái, cây sắn có diện tích sản xuất lớn nhưng năng suất còn thấp so với năng suất trung bình của cả nước. Một trong những nguyên nhân năng suất thấp là do sản xuất trên đất dốc với kỹ thuật canh tác truyền thống, chưa áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, đặc biệt là trong đó sử dụng phân bón.
Ở đất đồi núi, người dân chưa chú trọng đầu tư bón phân cho cây sắn, mức bón còn rất thấp, tỷ lệ NPK vẫn còn mất cân đối. Một trong những tồn tại của sản xuất sắn ở Việt Nam hiện nay là năng suất sắn ở địa phương vẫn còn thấp. Lí do là người dân thường quan niệm rằng sắn là loại cây dễ trồng, thích ứng rộng, ít sâu bệnh, chịu đất chua, đất nghèo dinh dưỡng và không đòi hỏi kỹ thuật quá phức tạp nên chưa chú ý đầu tư vào cách bón phân hợp lý cho sắn. Để phục vụ cho chiến lược phát triển sắn bền vững của tỉnh Yên Bái, ngoài việc nghiên cứu về giống, kỹ thuật trồng sắn thì việc nghiên cứu một số tổ hợp phân bón đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống sắn là vấn đề rất cần thiết.
Vì vậy, hạn chế của việc bón thiếu một số chất dinh dưỡng so với bón đầy đủ chất dinh dưỡng ở một mức độ nhất định. Chính vì thực tế trên, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sự sinh trưởng và phát triển của giống sắn BKA900 và KM419 năm 2017 tại huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái”. Mục đích của đề tài Xác định được giống và tổ hợp bón phân thích hợp nhất nhằm năng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong canh tác sắn tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Yêu cầu của đề tài - Xác định ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng sinh trưởng của 2 giống sắn BKA900 và KM419.
- Xác định tình hình sâu bệnh gây hại đến 2 giống sắn mới BKA900 và KM419. - Xác định ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến năng suất, chất lượng của giống sắn BKA900 và KM419. - Hoạch toán kinh tế của 2 giống sắn ở các tổ hợp phân bón khác nhau. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Qua quá trình học tập giúp sinh viên củng cố kiến thức, kỹ năng và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế tạo điều kiện cho sinh viên học hỏi thêm những kiến thức cũng như kinh nghiệm trong sản xuất. - Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã giúp cho sinh viên nâng cao được chuyên môn có cơ hội học hỏi và nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất. - Đề tài cũng xem như là một tài liệu tham khảo cho Khoa, Trường và sinh viên các khóa tiếp theo. Ý nghĩa trong sản xuất Góp phần xác định được tổ hợp phân khoáng thích hợp với 2 giống sắn để cho năng suất cao, chất lượng tốt nhất để áp dựng vào sản xuất đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của tỉnh Yên Bái cũng như các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc.
Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Nguồn gốc Cây sắn có tên khoa học là Manihot esculenta Crantz, là cây lương thực ăn củ, có thể sống lâu năm, thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae. Cây sắn có tới hơn 300 chi và 8000 loài phân thành 17 nhóm, có bộ nhiễm săc thể 2n = 36, riêng trong chi Manihot đã xác định có 98 loài sắn hoang dại được phân bố rộng khắp vùng thấp nhiệt đới của Châu Mỹ (Roger và Appan, 1973), Nassar (1978) xác định có 4 trung tâm phát sinh loài sắn hoang dại: Vùng trung tâm của Brazil (miền Nam Goias và miền Tây Minas Gerai) có 38 loài; Miền Tây Mehico có 19 loài và 2 trung tâm phụ là vùng Đông Bắc Brazil và miền Tây Mama Grosso và miền Đông Bolivia.
Roger (1963) đã xây dựng một bản đồ phân bố các loài của chi Manihot ở Trung Mỹ và Nam Mỹ, ở phía Tây và Tây Nam Mehico cũng như ở bờ biển Thái Bình Dương của các nước Trung Mỹ. Nhiều tài liệu cho biết cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của Châu Mỹ Latinh (Crantz,1976) và được trồng cách đây khoảng 5000 năm (CIAT, 1993). Trung tâm phân hóa phụ của cây sắn có thể tại Mehico, Trung Mỹ và ven biển các nước Nam Mỹ. Bằng chứng là những di tích khảo cổ ở Venezuela niên đại 2700 năm trước công nguyên, những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía Bắc Colombia niên đại khoảng 1200 năm trước công nguyên, những hạt tinh bột trong phân hóa thạch được phát hiện tại Mehico có tuổi từ 900 đến năm 200 trước công nguyên (Roger 1963, 1965).
Ở Châu Á, sắn được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ 17 (P.Rajendran et al, 1995) và Srilanka đầu thế kỷ 18 (W. Sau đó sắn được trồng ở Trung Quốc, Mianma và Luan van 5 các nước châu Á khác ở cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 (Fang Baiping, 1992. U Thun Than, 1992) và được du nhập theo hai con đường: Thứ nhất là vào Ấn Độ sau đó sang Trung Quốc, Mianma và một số nước trong khu vực. Thứ hai là từ châu Phi đến Nam Mỹ, Philippin, Indonexia rồi lan sang các nước khác.
Cây sắn bắt đầu được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18 (Phạm Văn Biên và cs, 1991)[2]. Hiện tại chưa có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên. Sắn được canh tác phổ biến tại hầu hết các tỉnh của Việt Nam từ Bắc vào Nam. Diện tích trồng sắn nhiều nhất ở vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng Trung du và miền núi phía Bắc.
Giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng Sắn là cây lương thực rất quan trọng bởi có giá trị lớn trên nhiều mặt. Sắn là nguồn lương thực đáng kể cho con người, hiện nay nhiều nước trên thế giới đã sử dụng sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn làm nguồn lương thực chính, nhất là các nước ở châu Phi. Tinh bột sắn còn là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người trên thế giới. Sắn cũng là cây trồng có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, thức ăn gia súc và lương thực thực phẩm.
Củ sắn được dùng để chế biến tinh bột, sắn lát khô, bột sắn nghiền hoặc dùng để ăn tươi. Từ sắn củ tươi hoặc từ các sản phẩm sắn sơ chế tạo thành hàng loạt các sản phẩm công nghiệp như bột ngọt, rượu cồn, mì ăn liền, bánh kẹo, bún, miến, mì tôm,. Củ sắn cũng là nguồn nguyên liệu chính để làm thức ăn gia súc. Thân cây sắn có thể làm giống, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulo, làm củi đun.
Lá sắn non và ngọn sắn có thể dùng làm rau xanh, ngoài ra lá sắn dùng trực tiếp để nuôi tằm, nuôi cá. Hiện tại, sản Luan van 6 phẩm sắn ngày càng thông dụng trong buôn bán, trao đổi thương mại quốc tế (P. Trong củ sắn tươi phần ăn được có tỷ lệ chất khô 30-40% trọng lượng mẫu tươi, tinh bột 27- 36%, giàu vitamin C, vitamin B và các chất khoáng nhưng lại nghèo các chất béo và muối khoáng. Hàm lượng các acid amin không cân đối, thừa arginin nhưng thiếu các acid amin chứa lưu huỳnh.
Tùy theo giống sắn, vụ trồng, số tháng thu hoạch sau trồng và kỹ thuật phân tích mà tổng số vật chất khô và hàm lượng đạm, béo, khoáng, xơ, đường, bột có sự thay đổi. Bột sắn nghiền và tinh bột sắn. Bột sắn nghiền thủ công có vật chất khô khoảng 87,56%, đạm thô 3,52%, béo thô 1,03%, xơ thô 1,37%, khoáng tổng số 1,38%, dẫn xuất không đạm 83,89%, Ca 0,11%, P 0,11%.