Luận văn tốt nghiệp: Ảnh hưởng của phân bón đến sự sinh trưởng giống sắn BKA900 và KM419 tại Yên Bái

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sự sinh trưởng và phát, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

108
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

1. MỤC LỤC

1.1. Mục đích của đề tài

1.2. Yêu cầu của đề tài

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

1.3.2. Ý nghĩa trong sản xuất

1.4. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.4.1. Cơ sở khoa học

1.4.2. Giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng

1.4.3. Cơ sở thực tiễn

1.4.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên Thế giới
1.4.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam
1.4.3.3. Tình hình sản xuất sắn tại Yên Bái
1.4.3.4. Tình hình nghiên cứu về phân bón cho sắn trên Thế giới và Việt Nam
1.4.3.4.1. Tình hình nghiên cứu về phân bón cho sắn trên Thế giới
1.4.3.4.2. Tình hình nghiên cứu về phân bón cho sắn ở Việt Nam

1.5. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

1.5.3. Nội dung nghiên cứu

1.5.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5.5. Công thức và phương pháp bố trí thí nghiệm

1.5.6. Quy trình kỹ thuật thí nghiệm

1.5.7. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

1.5.8. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu

1.6. DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.6.1. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến đặc điểm sinh trưởng của 2 giống sắn BKA900 và KM419

1.6.1.1. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến mọc mầm của 2 giống sắn
1.6.1.2. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của 2 giống sắn BKA900 và KM419
1.6.1.3. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến tốc độ ra lá của 2 giống sắn BKA900 và KM419
1.6.1.4. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tuổi thọ lá của 2 giống sắn BKA900 và KM419
1.6.1.5. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng thân lá cuối cùng của 2 giống sắn BKA900 và KM419 tại huyện Văn Yên

1.6.2. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tình hình sâu hại trên 2 giống sắn BKA900 và KM419 tại huyện Văn Yên

1.6.3. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn tham gia trong thí nghiệm

1.6.4. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến năng suất và chất lượng của giống sắn tham gia thí nghiệm

1.6.4.1. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến năng suất của giống sắn tham gia thí nghiệm

1.6.5. Ảnh hường của các tổ hợp phân bón đến chất lượng của giống sắn tham gia trong thí nghiệm

1.6.6. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của 2 giống sắn

2. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của phân bón đến sự phát triển của hai giống sắn BKA900KM419 tại tỉnh Yên Bái. Cây sắn, với tên khoa học là Manihot esculenta Crantz, là một trong những cây lương thực quan trọng, có khả năng thích ứng tốt với điều kiện đất đai nghèo dinh dưỡng. Tuy nhiên, năng suất sắn tại Yên Bái vẫn còn thấp do việc sử dụng phân bón chưa hợp lý. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tổ hợp phân bón tối ưu nhằm nâng cao năng suất và chất lượng của giống sắn này.

1.1. Tầm quan trọng của cây sắn

Cây sắn không chỉ là nguồn lương thực chính cho hàng triệu người mà còn là nguyên liệu quan trọng trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Theo FAO, sản lượng sắn toàn cầu đạt hơn 268 triệu tấn vào năm 2014. Tại Việt Nam, sắn đã trở thành cây công nghiệp hàng hóa có giá trị xuất khẩu cao. Tuy nhiên, việc áp dụng các kỹ thuật canh tác hiện đại, đặc biệt là trong việc sử dụng phân bón, vẫn còn hạn chế, dẫn đến năng suất thấp.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua các thí nghiệm tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Các tổ hợp phân bón khác nhau được áp dụng cho hai giống sắn BKA900KM419. Các chỉ tiêu sinh trưởng như tỷ lệ mọc mầm, chiều cao cây, tốc độ ra lá và năng suất củ được theo dõi và ghi nhận. Phương pháp phân tích số liệu được sử dụng để đánh giá tác động của các tổ hợp phân bón đến sự phát triển của giống sắn.

2.1. Thiết kế thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn với nhiều tổ hợp phân bón khác nhau. Mỗi tổ hợp được áp dụng cho một diện tích nhất định và được theo dõi trong suốt quá trình sinh trưởng của cây. Các chỉ tiêu như chiều cao cây, số lá, và năng suất củ được ghi nhận định kỳ để đánh giá hiệu quả của từng tổ hợp phân bón.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả cho thấy rằng các tổ hợp phân bón có ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển của giống sắn BKA900KM419. Cụ thể, tổ hợp phân bón có chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đã giúp tăng tỷ lệ mọc mầm và chiều cao cây. Năng suất củ cũng tăng đáng kể khi áp dụng các tổ hợp phân bón hợp lý. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc quản lý phân bón trong sản xuất sắn.

3.1. Ảnh hưởng đến năng suất

Năng suất củ của giống sắn BKA900KM419 tăng lên rõ rệt khi sử dụng các tổ hợp phân bón phù hợp. Kết quả cho thấy rằng việc áp dụng phân bón hợp lý không chỉ cải thiện năng suất mà còn nâng cao chất lượng củ sắn. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển bền vững ngành nông nghiệp tại Yên Bái.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng phân bón hợp lý có thể cải thiện đáng kể sự phát triển của giống sắn BKA900KM419 tại Yên Bái. Để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, cần có các chương trình đào tạo cho nông dân về kỹ thuật bón phân và quản lý cây trồng. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất sắn sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp tại địa phương.

4.1. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các tổ hợp phân bón khác nhau và ảnh hưởng của chúng đến các giống sắn khác nhau. Ngoài ra, việc nghiên cứu về tác động của môi trường sinh thái đến sự phát triển của cây sắn cũng cần được chú trọng để có những giải pháp phù hợp hơn trong sản xuất.

25/01/2025
Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sự sinh trưởng và phát triển của giống sắn bka900 và km419 năm 2017 tại huyện văn yên tỉnh yên bái

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Cây sắn có tên khoa học (Manihot esculenta Crantz) là cây lương thực, thực phẩm chính của hơn 500 triệu người trên thế giới. Sắn đồng thời cũng là cây thức ăn giá súc quan trọng của nhiều nước trên thế giới, cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến bột ngọt, rượu, cồn, bánh kẹo, mì ăn liền và nhiều sản phẩm khác nhau. Đặc biệt trong việc nghiên cứu phát triển sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học đang được các quốc gia trên thế giới quan tâm bởi các lợi ích của loại nhiên liệu này đem lại mà cây sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến sinh học (ethanol). Năm 2014, sản lượng sắn toàn thế giới đạt hơn 268 triệu tấn với diện tích trồng hơn 23,86 triệu ha và năng suất bình quân là 13,04 tấn/ha (FAOSTAT, 2017).

Sắn là một cây lương thực dễ trồng, khả năng thích ứng rộng và trồng được trên những vùng đất nghèo, không yêu cầu cao về điều kiện sinh thái, phân bón, chăm sóc. Nó được trồng rộng rãi ở 30o Bắc đến 30o Nam và được trồng ở trên 100 nước nhiệt đới thuộc 3 châu lục lớn là Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á (Phạm Văn Biên và cs, 1991)[2]. Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng đứng hàng thứ ba sau lúa và ngô. Cây sắn hiện nay đã chuyển đổi vai trò từ cây lương thực, thực phẩm thành cây công nghiệp hàng hóa có lợi thế cạnh tranh cao.

Tinh bột sắn Việt Nam đã trở thành một trong bảy mặt hàng xuất khẩu có triển vọng và đứng thứ hai trên thế giới. Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm khoảng 600.000 tấn tinh bột sắn, trong đó trên 70% xuất khẩu và gần 30% tiêu thụ trong nước (Trần Ngọc Ngoạn, 2007)[9]. Sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là tinh bột, sắn lát và bột sắn. Thị trường tiêu thụ chính là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo và Hàn Quốc.

Năm 2014, diện tích sắn Luan van 2 trên toàn quốc đạt 552,76 nghìn ha, năng suất bình quân 1,85 tấn/ha, sản lượng là 10,21 triệu tấn (FAO STAT, 2016). Cả nước hiện có 41 nhà máy chế biến tinh bột sắn. Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Đất đai của Yên Bái đa dạng về chủng loại, đất nông nghiệp chiếm tới 79,59% tổng diện tích tự nhiên, nhưng phần lớn diện tích là đât dốc.

Độ dốc trung bình 25 – 300, có nơi độ dốc trên 450. Cây trồng nông nghiệp trên đất dốc chủ yếu là cây sắn, được trồng nhiều nhất tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Ở tỉnh Yên Bái, cây sắn có diện tích sản xuất lớn nhưng năng suất còn thấp so với năng suất trung bình của cả nước. Một trong những nguyên nhân năng suất thấp là do sản xuất trên đất dốc với kỹ thuật canh tác truyền thống, chưa áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, đặc biệt là trong đó sử dụng phân bón.

Ở đất đồi núi, người dân chưa chú trọng đầu tư bón phân cho cây sắn, mức bón còn rất thấp, tỷ lệ NPK vẫn còn mất cân đối. Một trong những tồn tại của sản xuất sắn ở Việt Nam hiện nay là năng suất sắn ở địa phương vẫn còn thấp. Lí do là người dân thường quan niệm rằng sắn là loại cây dễ trồng, thích ứng rộng, ít sâu bệnh, chịu đất chua, đất nghèo dinh dưỡng và không đòi hỏi kỹ thuật quá phức tạp nên chưa chú ý đầu tư vào cách bón phân hợp lý cho sắn. Để phục vụ cho chiến lược phát triển sắn bền vững của tỉnh Yên Bái, ngoài việc nghiên cứu về giống, kỹ thuật trồng sắn thì việc nghiên cứu một số tổ hợp phân bón đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống sắn là vấn đề rất cần thiết.

Vì vậy, hạn chế của việc bón thiếu một số chất dinh dưỡng so với bón đầy đủ chất dinh dưỡng ở một mức độ nhất định. Chính vì thực tế trên, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sự sinh trưởng và phát triển của giống sắn BKA900 và KM419 năm 2017 tại huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái”. Mục đích của đề tài Xác định được giống và tổ hợp bón phân thích hợp nhất nhằm năng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong canh tác sắn tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Yêu cầu của đề tài - Xác định ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng sinh trưởng của 2 giống sắn BKA900 và KM419.

- Xác định tình hình sâu bệnh gây hại đến 2 giống sắn mới BKA900 và KM419. - Xác định ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến năng suất, chất lượng của giống sắn BKA900 và KM419. - Hoạch toán kinh tế của 2 giống sắn ở các tổ hợp phân bón khác nhau. Ý nghĩa của đề tài 1.

Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Qua quá trình học tập giúp sinh viên củng cố kiến thức, kỹ năng và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế tạo điều kiện cho sinh viên học hỏi thêm những kiến thức cũng như kinh nghiệm trong sản xuất. - Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã giúp cho sinh viên nâng cao được chuyên môn có cơ hội học hỏi và nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất. - Đề tài cũng xem như là một tài liệu tham khảo cho Khoa, Trường và sinh viên các khóa tiếp theo. Ý nghĩa trong sản xuất Góp phần xác định được tổ hợp phân khoáng thích hợp với 2 giống sắn để cho năng suất cao, chất lượng tốt nhất để áp dựng vào sản xuất đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của tỉnh Yên Bái cũng như các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc.

Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Nguồn gốc Cây sắn có tên khoa học là Manihot esculenta Crantz, là cây lương thực ăn củ, có thể sống lâu năm, thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae. Cây sắn có tới hơn 300 chi và 8000 loài phân thành 17 nhóm, có bộ nhiễm săc thể 2n = 36, riêng trong chi Manihot đã xác định có 98 loài sắn hoang dại được phân bố rộng khắp vùng thấp nhiệt đới của Châu Mỹ (Roger và Appan, 1973), Nassar (1978) xác định có 4 trung tâm phát sinh loài sắn hoang dại: Vùng trung tâm của Brazil (miền Nam Goias và miền Tây Minas Gerai) có 38 loài; Miền Tây Mehico có 19 loài và 2 trung tâm phụ là vùng Đông Bắc Brazil và miền Tây Mama Grosso và miền Đông Bolivia.

Roger (1963) đã xây dựng một bản đồ phân bố các loài của chi Manihot ở Trung Mỹ và Nam Mỹ, ở phía Tây và Tây Nam Mehico cũng như ở bờ biển Thái Bình Dương của các nước Trung Mỹ. Nhiều tài liệu cho biết cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của Châu Mỹ Latinh (Crantz,1976) và được trồng cách đây khoảng 5000 năm (CIAT, 1993). Trung tâm phân hóa phụ của cây sắn có thể tại Mehico, Trung Mỹ và ven biển các nước Nam Mỹ. Bằng chứng là những di tích khảo cổ ở Venezuela niên đại 2700 năm trước công nguyên, những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía Bắc Colombia niên đại khoảng 1200 năm trước công nguyên, những hạt tinh bột trong phân hóa thạch được phát hiện tại Mehico có tuổi từ 900 đến năm 200 trước công nguyên (Roger 1963, 1965).

Ở Châu Á, sắn được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ 17 (P.Rajendran et al, 1995) và Srilanka đầu thế kỷ 18 (W. Sau đó sắn được trồng ở Trung Quốc, Mianma và Luan van 5 các nước châu Á khác ở cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 (Fang Baiping, 1992. U Thun Than, 1992) và được du nhập theo hai con đường: Thứ nhất là vào Ấn Độ sau đó sang Trung Quốc, Mianma và một số nước trong khu vực. Thứ hai là từ châu Phi đến Nam Mỹ, Philippin, Indonexia rồi lan sang các nước khác.

Cây sắn bắt đầu được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18 (Phạm Văn Biên và cs, 1991)[2]. Hiện tại chưa có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên. Sắn được canh tác phổ biến tại hầu hết các tỉnh của Việt Nam từ Bắc vào Nam. Diện tích trồng sắn nhiều nhất ở vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng Sắn là cây lương thực rất quan trọng bởi có giá trị lớn trên nhiều mặt. Sắn là nguồn lương thực đáng kể cho con người, hiện nay nhiều nước trên thế giới đã sử dụng sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn làm nguồn lương thực chính, nhất là các nước ở châu Phi. Tinh bột sắn còn là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người trên thế giới. Sắn cũng là cây trồng có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, thức ăn gia súc và lương thực thực phẩm.

Củ sắn được dùng để chế biến tinh bột, sắn lát khô, bột sắn nghiền hoặc dùng để ăn tươi. Từ sắn củ tươi hoặc từ các sản phẩm sắn sơ chế tạo thành hàng loạt các sản phẩm công nghiệp như bột ngọt, rượu cồn, mì ăn liền, bánh kẹo, bún, miến, mì tôm,. Củ sắn cũng là nguồn nguyên liệu chính để làm thức ăn gia súc. Thân cây sắn có thể làm giống, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulo, làm củi đun.

Lá sắn non và ngọn sắn có thể dùng làm rau xanh, ngoài ra lá sắn dùng trực tiếp để nuôi tằm, nuôi cá. Hiện tại, sản Luan van 6 phẩm sắn ngày càng thông dụng trong buôn bán, trao đổi thương mại quốc tế (P. Trong củ sắn tươi phần ăn được có tỷ lệ chất khô 30-40% trọng lượng mẫu tươi, tinh bột 27- 36%, giàu vitamin C, vitamin B và các chất khoáng nhưng lại nghèo các chất béo và muối khoáng. Hàm lượng các acid amin không cân đối, thừa arginin nhưng thiếu các acid amin chứa lưu huỳnh.

Tùy theo giống sắn, vụ trồng, số tháng thu hoạch sau trồng và kỹ thuật phân tích mà tổng số vật chất khô và hàm lượng đạm, béo, khoáng, xơ, đường, bột có sự thay đổi. Bột sắn nghiền và tinh bột sắn. Bột sắn nghiền thủ công có vật chất khô khoảng 87,56%, đạm thô 3,52%, béo thô 1,03%, xơ thô 1,37%, khoáng tổng số 1,38%, dẫn xuất không đạm 83,89%, Ca 0,11%, P 0,11%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn tốt nghiệp mang tiêu đề "Ảnh hưởng của phân bón đến sự sinh trưởng giống sắn BKA900 và KM419 tại Yên Bái" của tác giả Phạm Mạnh Kiên, dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Đình Hà, nghiên cứu về tác động của phân bón đối với sự phát triển của hai giống sắn phổ biến tại Yên Bái. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà phân bón ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây trồng, mà còn giúp nông dân và các nhà nghiên cứu có thêm thông tin để tối ưu hóa quy trình canh tác, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp canh tác và quản lý nông nghiệp, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Sử dụng Đất Nông Nghiệp ở Nông Cống, Thanh Hóa (2014-2019): Hiện Trạng và Phân Tích", nơi nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, hay "Giáo trình hướng dẫn tổ chức công tác khuyến nông hiệu quả", cung cấp hướng dẫn về tổ chức công tác khuyến nông, và "Nghiên cứu biện pháp bón phân cho cà phê vối trên đất bazan tại Đắk Lắk", nghiên cứu về bón phân cho cây cà phê, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến việc tối ưu hóa năng suất cây trồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.