Đặt vấn đề Măng tây có tên khoa học là Asparagus officinalis L., thuộc họ Măng tây Asparagaceae, là loại rau cao cấp, có thân thảo dạng bụi, lá kim. Măng tây có nguồn gốc ở các nước châu Âu, Bắc Phi và Tây Á. Ngày nay, măng tây được trồng ở nhiều quốc gia và trở thành cây trồng xuất khẩu chủ lực trong cơ cấu kinh tế. Măng tây là một loại cây trồng lâu năm, tuổi thọ trên 30 năm thích hợp nơi có khí hậu nhiệt đới có nhiệt độ trung bình từ 25oC đến 30, là loại thực vật dùng làm rau và thuốc phổ biến ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Măng tây có chứa hàm lượng dinh dưỡng cao như chất xơ, glucid, đạm, các vitamin C, K, A, pyridoxine (B6), riboflavin (B2), thiamin(B1), acid folid, các chất khoáng cần thiết cho cơ thể con người như : kali, canxi, sắt, kẽm…( Ravi Teja Tadimalla, 2020). Tuy nhiên, không chỉ là một loại “rau vua”, măng tây còn mang lại rất nhiều những công dụng tuyệt vời cho sức khỏe mà không phải ai cũng biết như tốt cho tim mạch, hệ hô hấp, lợi tiểu, ngăn ngừa lão hóa, tốt cho đường ruột,… Hiện nay việc sản xuất măng tây ở nước ta còn phụ thuộc nhiều vào phân bón hóa học. Các loại phân hoá học (đặc biệt là phân đạm) có thể làm ô nhiễm nitrat nguồn nước ngầm, hiện tượng phản đạm hoá dẫn đến mất đạm, gây ô nhiễm không khí, làm đất hoá chua, hiện tượng tích đọng kim loại nặng Cu, Pb, Zn, Cd. trong nước và đất dẫn đến chất lượng nông sản bị sút kém rõ rệt.
Vì vậy phương pháp canh tác hữu cơ như là một phương pháp nông nghiệp không sử dụng thuốc trừ sâu tổng hợp và phân bón hóa học, đồng thời bảo vệ sức khỏe con người, động vật và môi trường. Không những thế, nông nghiệp hữu cơ còn giúp duy trì, gia tăng độ màu mỡ lâu dài cho đất, củng cố các chu kỳ sinh học cho nông trại, đặc biệt là các chu trình dinh dưỡng, bảo vệ cây trồng dựa trên việc phòng ngừa thay cho cứu chữa, luân canh, xen canh và phát triển các giống bản địa phù hợp với điều kiện địa phương,… ( Nguyễn Thế Đặng và cs. Trong phương pháp trong canh tác hữu cơ thường sử dụng phân xanh hoặc phân động vật đạt tiêu chuẩn canh tác hữu cơ 1 (theo bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã đưa ra: tiêu chuẩn canh tác hữu cơ yêu cầu phân phải được khử trùng qua nhiệt độ cao trong phương pháp ủ yếm khí sinh nhiệt. Nếu phân động vật được sử dụng, phải được cách ly 120 ngày trước ngày thu hoặc sản phẩm).
Ngoài ra, còn có thể cung cấp dinh dưỡng hữu cơ dạng lỏng qua rễ hoặc lá để cung cấp kịp thời và đầy đủ dinh dưỡng cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng. Qua đó cho thấy, phương pháp canh tác hữu cơ giúp giảm tối ưu tác động của thuốc trừ sâu và hóa chất, phục hồi và cải thiện sức khỏe của đất, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường và đặc biệt canh tác hữu cơ làm tăng giá trị dinh dưỡng, kéo dài tuổi thọ của sản phẩm, tạo ra một nguồn thực phẩm nông nghiệp hữu cơ đáng tin cậy đối với người tiêu dùng. Cây măng tây mới được du nhập vào Việt Nam nên biện pháp kỹ thuật canh tác và kinh nghiệm kỹ thuật trồng măng còn nhiều hạn chế. Để sản xuất măng tây hữu cơ đạt hiệu quả đòi hỏi người trồng cần phải hiểu biết rõ về cơ chế sinh trưởng, phát triển của cây măng tây và ngoài ra phải hiểu rõ được các vai trò quan trọng của các dung dịch dinh dưỡng hữu cơ đối với măng tây hữu cơ.
Ngoài các biện pháp canh tác hữu cơ đối với cây măng tây kể trên thì công nghệ trồng măng giữ lại cây mẹ cũng là một phương pháp rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của măng tây hữu cơ. Vì số lượng cây măng mẹ được giữ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng quang hợp, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng mầm măng. Ngoài ra măng là loại rau thu liên tục, phần thu hoạch là chồi non nên nó yêu cầu lượng dinh dưỡng lớn trong quá trình trồng. Tuy nhiên, những nghiên cứu về số cây măng mẹ giữ lại và loại dung dịch dinh dưỡng bón hữu cơ cho măng tây ở Việt Nam còn thiếu.
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của số cây măng mẹ được giữ lại và các loại dinh dưỡng hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng cây măng tây (Asparagus officinalis L.) trồng theo phương pháp hữu cơ.2 Mục đích và yêu cầu. 2 - Từ việc nghiên cứu ảnh hưởng của số cây măng mẹ được giữ lại và các loại dinh dưỡng hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng cây măng tây trong theo phương pháp hữu cơ từ đó chỉ ra được số cây măng mẹ được giữ lại, dung dịch dinh dưỡng hữu cơ và tương tác giữa số cây măng mẹ được giữ và dung dịch dinh dưỡng tới sinh trưởng, năng suất và chất lượng cây măng tây tốt nhất trồng theo phương pháp hữu cơ. - Đánh giá ảnh hưởng của số cây măng mẹ được giữ, dung dịch dinh dưỡng hữu cơ đến sinh trưởng của măng tây. - Đánh giá ảnh hưởng của số cây măng mẹ được giữ, dung dịch dinh dưỡng hữu cơ đến các chỉ tiêu sinh lý của cây măng tây.
- Đánh giá ảnh hưởng của số cây măng mẹ được giữ, dung dịch dinh dưỡng hữu cơ đến tình hình sâu bệnh hại cây măng tây. - Đánh giá ảnh hưởng của số cây măng mẹ được giữ kết hợp với các dung dịch dinh dưỡng hữu cơ đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của cây măng tây. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận đề tài.
Nguồn gốc phân loại: Măng tây có tên khoa học là Asparagus officinalis, thuộc hộ măng tây Asparagaceae, là một loại thân thảo dạng bụi, lá kim nhưng sống lâu năm. Có nguồn gốc ở các nước châu Âu, Bắc Phi và Tây Á vì vậy khi du nhập về nước ta được gọi là măng tây để có thể phân biệt được các loại măng khác của Việt Nam (măng nứa, măng tre,…). Măng tây được mệnh danh là loại rau vua vì có thành phần dinh dưỡng cao nên rất được ưa chuộng trong các bữa ăn trong gia đình của người phương Tây cũng như phương Đông. Trên thế giới có khoảng hơn 300 giống măng tây nhưng chỉ có khoảng 20 loại măng tây có thể ăn được.
Phần thu hoạch của măng tây là các chồi măng non mới mọc dài khoảng 15 – 25cm, có phần đầu chồi nhỏ, hình dạng như ngọn giáo, ăn rất giòn, ngọt rất dễ ăn. Có 3 loại măng tây chính: măng tây xanh, măng tây trắng và măng tây tím. 3 loại măng trên được sản xuất nhiều, cho năng suất cao, chất lượng tốt, phát triển tốt ở điều kiện nhiệt độ 10 – 40°C. Phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 23 – 29°C vào ban ngày và ban đêm là 15-21°C cho nên nước ta rất thích hợp cho cây măng tây phát triển đem lại năng suất, chất lượng cao.
Giá trị cây măng tây Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng cây măng tây theo Lê Hồng Triều 2009 Thành phần Giá trị dinh dưỡng Tỷ lệ phần trăm Năng lượng 20 kcal 1% Carbohydretes 3,88 gr 4% Đường 1,88 gr Protein 2,20 gr 2,5% Chất béo 0,12 gr 0,5% Cholesterol 0 gr 0% Chất xơ 2,10 gr 5,5% Chất khoáng Calcium 24 mg 2% Magnesium 14 mg 1% Manganese 0,158 mg 7% Selenium 2,3 mcg 4% Copper 0,189 mg 21% Iron 2,14 mg 14% Zinc 0,54 gr 5% Phosphorus 52 mg 7% Chất điện giải Potassium 20,2 mg 4% Sodium 2 mg < 1% Chất tro 0,6% Vitamin Vitamin B1 0,143 mg 12% Vitamin B2 0,141 mg 11% Vitamin B3 0,978 mg 6% Vitamin B5 0,274 mg 5% Vitamin B6 0,091 mg 7% Vitamin B9 52 μg 13% Vitamin K 41,6 μg 35% Vitamin A 756 IU 25% Vitamin C 5,60 mg 9% Vitamin E 1,13 mg 7,5% Phyto-nutrients Lutein-Zeaxanthin 710 μg Carotene-β 449 μg 5 Carotene-α 9 μg *Giá trị y học cây măng tây: Giống như giá trị dinh dưỡng thì cây măng tây cũng có giá trị y học cao. Từ lâu, người dân Hy Lạp cổ, người Ai Cập và người La Mã cổ đại đã sử dụng măng tây để làm thuốc chữa táo bón, chống lão hóa da, phòng ngừa các bệnh về tim mạch, suy gan, thận, tăng cường sức khỏe và khả năng sinh lý,sinh dục. Ngày nay, khoa học công nghệ nghiên cứu trên thế giới ngày càng phát triển chúng ta đã có thể chứng minh và khẳng định được cây măng tây ngoài cung cấp dinh dưỡng cho con người với vai trò là một loại thực phẩm thì măng tây còn được coi là một cây dược liệu quý bởi nó rất giàu dược tính. Theo Viện Nghiên Cứu Ung Thư Hoa Kỳ (AICR), từ cây măng tây, các nhà khoa học đã chiết xuất được 141 loại hợp chất hóa học quý hiếm, trong đó có 31 hợp chất hóa học trực tiếp có tác dụng phòng chống và điều trị bệnh ung thư.
● Giá trị kinh tế của cây măng tây. Măng tây là một loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, và giàu giá trị y học vì vậy măng tây luôn là một trong các sản phẩm nông nghiệp của nước ta có giá trị kinh tế cao cho dù măng tây mới du nhập vào Việt Nam trong thời gian ngắn. Các sản phẩm từ măng tây vô cùng đa dạng và phong phú cộng thêm với nhu cầu sử dụng cao nên măng tây là sản phẩm không chỉ tiêu thụ trong nước mà có thể xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài khác. Việt Nam là một trong các quốc gia có kiểu khí hậu nhiệt đớt rất phù hợp với điều kiện ngoại cảnh đối với cây măng tây.
Vốn đầu tư cho mỗi công cho 1.000 m² đất trồng cây Măng tây cần chi phí từ 10-30.000 đồng/hecta) để chi dần trong 6-9 tháng đầu tiên. Sau đó chỉ cần sử dụng nguồn tiền thu được hàng ngày từ sản phẩm rau Măng tây để thu hồi vốn, lãi và tiếp tục chi ra một phần 30-50% để tái đầu tư sản xuất cho đến hết chu kỳ khai thác cây và thu hoạch Măng kéo dài liên tục 6-8 năm đến 10-20 năm về sau. Một khảo sát vào năm 2011, anh Nguyễn Trương Anh Tiến ở TP.Phan Rang - Tháp Chàm xác nhận với khách tham quan rẫy trồng cây Măng 6 tây của mình: Mỗi công/sào (1.000 m2) đất trồng cây Măng tây của các anh đang cho thu hoạch từ 5-15 kg rau Măng tây xanh mỗi ngày (bình quân 10 kg/ngày/1.