Đặt vấn đề Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày của con người, cung cấp năng lượng, chất xơ cần cho quá trình tiêu hoá, là nguồn cung cấp vitamin, mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao, nguồn thức ăn cho vật nuôi. Hơn nữa, rau còn là nguyên liệu của ngành công nghiệp thực phẩm như sản xuất bánh, mứt, nước giải khát, hương liệu công nghệ đồ hộp, dược liệu,. Cây măng tây (Asparagus officinalis L.) thuộc nhóm cây lưu niên, có chồi măng được sử dụng làm rau chứa hàm lượng dinh dưỡng cao và giàu dược tính [9], được trồng từ những năm 500 - 200 trước Công nguyên ở Hy Lạp, La Mã cổ đại và vùng Địa Trung Hải [24]. Được du nhập vào Việt Nam từ những năm 1960 và ngày càng mở rộng khu vực và diện tích canh tác trong cả nước [24].
Ở nước ta, tỉnh Ninh Thuận được xem là vùng trọng điểm trồng măng tây, ước tính diện tích canh tác khoảng 200 ha và ngày càng mở rộng [83]. Trong khi đó, tỉnh Khánh Hòa với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho măng tây phát triển nhưng cây măng tây mới dừng lại ở nghiên cứu trồng thí điểm, chưa đưa vào sản xuất đại trà. Mặt khác, biện pháp canh tác măng tây hiện nay chủ yếu sử dụng phân hóa học do vậy làm thay đổi tính chất của đất trồng, giảm thời gian khai thác sản phẩm của măng tây. Xu hướng nền nông nghiệp thế giới cũng như ở Việt Nam là hướng đến xây dựng nền nông nghiệp sạch và bền vững.
Trong đó, thay thế phân hóa học bằng phân hữu cơ vi sinh là giải pháp được ưu tiên hàng đầu. Phân hữu cơ vi sinh bên cạnh chứa thành phần dinh dưỡng còn chứa các vi sinh vật giúp phòng trừ bệnh và tăng sức đề kháng cho cây trồng, làm tăng chất lượng nông sản, cung cấp cho đất từ 30-60kg N/năm, tăng hiệu lực dùng phân lân, nâng cao độ phì nhiêu của đất, tăng lượng mùn trong đất e 2 [30]. Ngoài ra, thành phần hữu cơ trong phân giúp giữ ẩm, giữ phân, giữ nước và giúp cho bộ rễ phát triển tốt, bền lâu, giúp cho đất tơi xốp từ đó chống hiện tượng xói mòn và chai cứng đất, giúp cho hệ vi sinh vật có lợi trong đất phát triển mạnh mẽ đẩy lùi những vi sinh vật bất lợi cho cây trồng, giúp hạn chế được những loại bệnh do vi sinh vật có hại gây ra, những loại nấm bệnh gây hại cho rễ. Tuy nhiên đối với mỗi loại cây trồng khác nhau, chất đất khác nhau thì nhu cầu phân bón khác nhau.
Vì vậy nhằm đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất măng tây xanh và góp phần xây dựng kỹ thuật canh tác phù hợp, bền vững cây măng tây ở địa phương chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của liều lƣợng phân hữu cơ vi sinh đến sự sinh trƣởng, năng suất và phẩm chất cây măng tây (Asparagus officinalis L.) trồng tại xã Ninh Trung, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa”. Mục đích của đề tài - Đánh giá được ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây măng tây. - Đánh giá được sự ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh nghiên cứu đến một số chỉ tiêu về năng suất, phẩm chất của cây măng tây. - Xác định được liều lượng phân hữu cơ vi sinh hợp lý cho cây măng tây nhằm mang lại năng suất, hiệu quả kinh tế cao.
Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Đề tài góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống măng tây lai F1 Radius dưới sự ảnh hưởng của các mức bón phân hữu cơ vi sinh trên nền đất thịt nhẹ tại xã Ninh Trung, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Ý nghĩa thực tiễn Qua kết quả nghiên cứu của đề tài xác định công thức phân bón phù hợp với nền đất thịt nhẹ tại xã Ninh Trung, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa và đánh giá hiệu quả kinh tế. Từ đó khuyến cáo ra sản xuất công thức bón phân hiệu quả phù hợp với giống cây măng tây nhằm đạt năng suất cao, cải thiện đất, góp phần tăng thu nhập, phát triển kinh tế cho người dân.
e 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc, phân bố và phân loại của cây Măng tây 1. Nguồn gốc, phân bố Theo Boswell, Startevant và Vavilop, măng tây hiện trồng có nguồn gốc từ khu vực phía đông Địa Trung Hải và Tiểu Á. Măng tây tự nhiên mọc ở châu Âu, vùng Kavkaz và phía tây Siberia [1].
Một số tài liệu cho thấy măng tây được phân bố từ Địa Trung Hải đến Siberia, được tìm thấy như loài bản địa của dãy núi Altai (Cộng hòa Altai, Liên bang Nga) [47] và măng tây được ghi nhận ở châu Mỹ và New Zealand. Trước khi được dùng làm thực phẩm, măng tây hoàn toàn được coi như một loại cây thuốc được dùng cho các bệnh về tim, phù thũng và đau răng. Người Hy Lạp là người đầu tiên đặt tên, gieo trồng măng tây như một loại rau cao cấp vào những năm 200 trước công nguyên [79]. Măng tây được trồng và thu hoạch từ tự nhiên trong hơn một nghìn năm và hiện đã du nhập ở nhiều vùng lãnh thổ trên toàn thế giới: đầu tiên là ở Bắc và Nam Mỹ, Trung Quốc và châu Âu, sau đó ở Hoa Kỳ, Canada, vùng Bermuda, quần đảo Cook, Polynesia thuộc Pháp, New Caledonia, Ecuador (bao gồm quần đảo Galapagos), Nhật Bản, New Zealand, Úc và Seychelles và trở thành cây nông nghiệp quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới với giá trị xuất khẩu năm 2019 đạt 1,4 tỉ đô la Mỹ [81], [FAOSTAT].
Vị trí phân loại của cây Măng tây Măng tây là loại cây lâu năm được mô tả lần đầu tiên vào năm 1753 bởi Carl Linnaeus [68], có vị trí phân loại học như sau: Ngành Hạt kín (Angiospermatophyta) hay ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) hay lớp Hành (Liliopsida) e 5 Bộ (ordo): Asparagales Họ (familia): Asparagaceae Chi (genus): Asparagus Loài (species): A. Chi Măng tây (Asparagus) bao gồm 300 loài, trong đó loài A. officinalis là loài thông dụng nhất có nguồn gốc từ các loài măng tây hoang dại được trồng trọt cho rau xanh [64]. Những người nông dân ở Tây Ban Nha và Hy Lạp thích ăn các chồi non của loài có gai A.
acutifolius, là loài mọc hoang ở bờ biển Địa Trung Hải. springeri là loài có tính chống chịu cao với nấm Fusarium spp. nhưng không lai được với A. Hầu hết các giống măng tây được trồng trọt hiện nay là các giống thuộc loài A.
officinalis, với một số đặc điểm hình thái học khác nhau và thậm chí khác nhau về tính thích ứng theo từng địa phương (năng suất, kích thước măng, tính chống chịu sâu bệnh, tuổi thọ,.) nhưng không khác nhiều về hình thức và đặc điểm sinh trưởng [1]. Số lượng nhiễm sắc thể lưỡng bội của A. officinalis được ghi nhận là 2n = 20 [47], [79]. Măng tây hoang dại mọc ở Anh, Nga và Ba Lan có thân dài và mỏng hơn so với các giống được tìm thấy và hương vị tinh tế hơn.
Hiện nay, loài măng tây hoang dại (nguồn gốc của măng tây trồng) vẫn được tìm thấy ở những nơi như khu vực rừng cây và dọc theo các bờ sông ở Nam Trung Âu, Tây và Trung Á và Bắc Phi [78]. Một loài măng tây hoang dại A. racemosus đóng một vai trò đặc biệt trong sự phát triển của y học Ayurveda ở Ấn Độ bắt đầu từ hơn 5. Vì loài này có tác dụng chống oxy hóa và kháng khuẩn có thể cải thiện hệ thống miễn dịch, có thể kích thích cơ thể người tiết insulin nên được dùng để chữa trị chứng khó tiêu, táo bón, co thắt dạ dày và loét dạ dày, viêm phế quản, tiêu chảy, tiểu đường [80].
Đặc điểm sinh trƣởng và phát triển của cây măng tây Măng tây là loài cây thân thảo, thuộc lớp thực vật Một lá mầm (Monocotyledoneae), có tuổi thọ trung bình khoảng 30 năm. Cây măng tây có khả năng chịu hạn rất tốt, thích nghi để trồng ở những vùng có khí hậu nhiệt đới. Cây sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện đất nhẹ, tơi xốp, giàu dinh dưỡng, đủ ánh sáng, thoát nước tốt. Đất càng tơi xốp, càng giàu dinh dưỡng hữu cơ, vi sinh có ích thì mầm măng tây càng có chất lượng tốt, năng suất cao.
Thân Măng tây có dạng thân thảo lâu năm, cây phát triển theo dạng bụi, cây trưởng thành có chiều cao khoảng 100-150 cm, tán rộng khoảng 1m, phân cành nhiều về phía trên [1]. Lá Lá măng tây hình kim, trên bề mặt lá có lông, mọc thành từng cụm, khả năng thoát nước ít nên thuộc nhóm cây chịu hạn [1]. Rễ Ngay sau khi hạt nảy mầm rễ chính rất ngắn bị chết, tồn tại rễ trụ thẳng đứng, các rễ nhánh mọc ngang rễ trụ tạo thành hệ rễ chùm [1], [24], [27]. Cụm chồi và măng Măng thường được hình thành trên rễ trụ gần mặt đất, đây là nơi tập trung chất dinh dưỡng của cây khi còn non.
Các cây đực thường cho nhiều mầm hơn, sống lâu hơn và sản lượng măng cao hơn cây cái khoảng 25% nhưng chất lượng măng kém hơn cây cái. Măng được thu hoạch trong nhiều năm (8-10 năm) nhưng sản lượng lớn thường tập trung ở các năm thứ 3 đến thứ 5. Sang năm thứ 7-8, khi năng suất và chất lượng giảm thì cần bỏ để trồng mới [1], [24], [27]. e 7 Trước khi mọc khỏi mặt đất, măng có màu trắng, mềm.
Khi mọc cao khỏi mặt đất thì chuyển sang màu xanh và phát sinh cành, thân chồi măng tây có thể cao tới 2m [27]. Hoa Măng tây là cây đơn tính với hoa đực và hoa cái được sinh ra trên các cây riêng biệt đôi khi có hoa lưỡng tính. Hoa của cả hai giới đều có hình chuông với 6 vòi (phần hoa bên ngoài không phân biệt thành đài và cánh hoa), cuống hoa nhỏ dài tới 25 mm. Hoa đực dài 5-6 mm và màu vàng, có bầu nhụy bất dục và ống phấn màu vàng với rất nhiều hạt phấn.
Hoa cái dài khoảng 4mm và màu vàng lục, có dấu tích của nhị đực nhưng không có khả năng sinh hạt phấn, có bầu nhụy phát triển [1], [27]. Hoa lưỡng tính rất hiếm gặp, hoa tự thụ phấn và có thể hình thành một hoặc một vài hạt có sức sống. Những hoa hữu thụ chức năng chỉ chiếm 1-10% của hoa lưỡng tính [1]. Quả và hạt Quả măng tây là quả mọng có đường kính trung bình 9 mm, có 3 ngăn, khi chín có màu đỏ, mỗi ngăn cho 2 hạt.