Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về hoa cúc lá nhám 1.1 Nguồn gốc và phân loại Theo Lê Kim Biên (2007), cúc lá nhám gồm có 20 loải, từ bông hoa có kích thước thu nhỏ đến những những bông khổng lồ có kích thước như một quả bóng tennis, có nguồn gốc Trung châu Mỹ, cụ thê là Mexico và được phân bố ở các nước Nam Mỹ như Braxin, Chile, Mexico, Peru. Theo Nguyễn Thị Kim Huyén (2012), hoa cúc lá nhám thuộc lớp 2 lá mầm - Dicotyledoneae, phân lớp cúc - Asterydae, thuộc bộ cúc - Asterales, họ cúc - Asteraceae và thuộc chi - Zinnia sp. ở Việt Nam cúc lá nhám hiện có 5 loài va trên thế giới có 200 loài. Chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản và Thái Lan.
Sử dụng làm hoa nên và cây cảnh.2 Đặc điểm thực vật học Cảnh Lá Hoa Thân Hình 1.1 Cây hoa cúc lá nhám 3 1.1 Rễ Theo Phạm Văn Duệ (2005), rễ cây hoa cúc thuộc loại rễ chùm, ăn sâu 5 - 10 cm, rễ tuy ăn sâu ít nhưng phát triển theo chiều ngang nên khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh do có nhiều rễ phụ và lông hút, đồng thời cây thích hợp với đất thoáng khí và giàu mun. Chức nang của rễ: Giữ cho cây dính vào đất và giúp cho cây ở vi tri thang đứng. Bộ rễ có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển của thân, cành, lá trên mặt đất của cây, bởi vì chúng hút các chất dinh dưỡng (nước, muối khoáng) trong đất. Chuyền các chat đó lên thân lá dé tạo ra các chất dinh dưỡng hữu cơ cho cây sinh trưởng và phát triển.2 Thân Cúc lá nhám thuộc loại thân thảo, có thé đứng hoặc bò, thân có lông tơ nhẹ, chiều dài thân khoảng từ 30 - 35 em (tùy loại), khả năng đẻ nhánh mạnh, thân chứa nhiều nước.
Vì vậy nếu thiếu nước do sinh lý cây hoặc tôn thương rễ, thân sẽ nhanh chóng héo và hồi phục nhanh chóng nếu được cung cấp nước ngay lập tức. Đối với một số giống hoa cúc nhập nội, thân to, thắng đứng, phân đốt mạnh và dễ gãy. Cây càng lớn thân càng cứng, cây cao hay thấp còn tùy thuộc vào giống. Dựa vào chiều cao thân có thé chia làm 3 loại: Thân cao có chiều cao từ 70 - 90 cm; thân trung bình có chiều cao từ 45 - 70 em; thân lùn có chiều cao từ 15 - 45 cm.
Giống cúc lá nhám làm thí nghiệm thuộc nhóm cúc thân lùn (Pham Văn Dué, 2005). Chức năng của thân là khâu nối giữ bộ rễ của cây với cành và lá, thực chất nó là con đường vận chuyền chất qua lại giữa bộ rễ và lá.3 Lá Lá mọc đối xứng, không có cuống, phiến lá hình bầu dục, chóp nhọn, màu lục tươi, viền lá nguyên, cả hai mặt phủ lông (Lê Kim Biên, 2007). Theo Andrew (1960) gân lá có dạng hình lưới, gân chính nổi rõ và mau trắng. Từ mỗi nách thường phát sinh một mầm nhánh, phiến lá to hay nhỏ tùy thuộc vào đặc điểm của từng giông và chê độ chăm sóc.
Chức năng của lá là cơ quan chuyên hóa của dinh dưỡng, thực hiện sự quang hợp tạo ra các vật chât hữu cơ nuôi cây.2 Lá cúc lá nhám tại 16 NST 1.4 Hoa Hoa mọc trên đỉnh sinh trưởng của thân chính và cành chính, có rât nhiêu màu sắc khác nhau: Trăng, đỏ, vàng, cam, hông nhạt, hông đậm, tím, màu hoa cà. Đường kính hoa từ 1,5 - 10 cm (Pham Văn Duệ, 2005). Dựa vào kiểu hoa có thé chia thành 2 loại là cánh đơn (hoa chỉ một lớp cánh) và cánh kép (hoa có nhiều lớp cánh). Cả hai loại này khi gieo hạt đều phân ly ra nhiều màu hoa đẹp (Phạm Văn Duệ, 2005).
Hiện nay, cúc lá nhám còn được phân loại thêm một nhóm thuộc cánh nửa kép. Giống cúc lá nhám sử dụng trong thí nghiệm thuộc nhóm cánh nửa kép.5 Quả và hạt Theo Phạm Hoàng Hộ (2003), cây hoa cúc có quả dạng bề khô, hình tru hơi det, chỉ chứa một hạt, hạt có phôi thang và không có nội nhũ, quả có hai răng ở đầu có màu từ xám đên đen. Hạt cúc lá nhám khá nhỏ P1000 hạt = 7,4 g (Lê Kim Biên, 2007). Chức năng của hoa và quả: Phương thức sinh sản bảo tôn của thực vật và nó cũng chính là cơ sở cho người trồng thu hái hạt giống để gieo trồng nhân giống sau này.3 Điều kiện ngoại cảnh 1.1 Ánh sáng Năm 1995, khi nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng tới cây hoa cúc Yulian và Fujime đã đưa ra kết luận, cúc là cây ngày ngắn, ưa sáng.
Đặc biệt khi trưởng thành cây có thê chịu được ánh sáng trực xạ (Yulian và Fujime, 1995). Thời gian chiếu sáng trong ngày dài thuận lợi cho cây sinh trưởng, thời gian chiếu sáng trong ngày ngăn thuận lợi cho cây ra hoa. Ngoài ra, thời gian chiếu sáng rất quan trọng có tác động tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Hầu hết vào thời kì sinh trưởng dinh dưỡng cây cần thời gian chiếu sáng trong ngày dài trên 14 giờ, trong giai đoạn trổ hoa 10 - 11 giờ (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007).
Cường độ ánh sáng thích hợp cho cúc lá nhám từ 1.000 lux, ánh sáng tối thích từ 2. Trong quá trình phát triển co quan sinh sản nếu cường độ ánh sáng cao trên 3.000 lux cây sẽ ra hoa sớm, nếu cường độ ánh sáng thấp dưới 1.000 lux thì quá trình ra nụ, nở hoa sẽ chậm lại (Đoàn Thị Hạnh, 2013). Thời gian dau khi mâm non mới ra ré, cân ít ánh sáng bởi vì cây còn sử dụng chat dự trữ trong cây, cây còn nhỏ có thé che nắng 50 %. Nhưng khi cây tiêu hao hết đinh dưỡng dự trữ, cây cần ánh sáng dé chuyên sang giai đoạn sống tự dưỡng, cây cúc lá nhám khi đã lớn chịu được ánh sáng trực xạ (Phạm Văn Dué, 2005).2 Nhiệt độ Về yếu tố nhiệt độ của cúc lá nhám cũng như các giống hoa cúc nói chung có nguồn gốc ôn đới, nên ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển là từ 15 - 20 °C, cây có thể chịu đựng ở nhiệt độ từ 10 - 35 °C, nhưng nhiệt độ trên 35 °C và dưới 10 °C sẽ làm cho cúc lá nhám sinh trưởng phát triển kém.
Ở thời kỳ cây con yêu cầu nhiệt độ cao hơn. Đặc biệt trong thời kỳ ra hoa, đảm bảo cho hoa ở nhiệt độ cần thiết thì hoa sẽ to và đẹp hơn. Ban ngày cây cần nhiệt độ cao hơn để quang hợp, còn ban đêm nếu nhiệt độ cao sẽ thúc đây quá trình hô hấp làm tiêu hao chất dự trữ trong cây (Nguyễn Xuân Linh, 2002). Theo Phạm Văn Dué (2005) cúc lá nhám (Zinnia sp.) sinh trưởng, phát triển trong phạm vi nhiệt độ khá rộng.
Bắt đầu sinh trưởng từ 16 °C, thích hợp nhất là 20 °C - 22 °C, chịu nhiệt độ cao là 40 °C. Nhiệt độ mùa hè ở miền Bắc rất thích hợp cho cây sinh trưởng.3 Âm độ Cúc lá nhám là cây trồng cạn có thé chịu hạn nhưng không chịu úng nên âm độ quá cao có thê gây tác động xâu đên cây. Độ ẩm đất từ 60 - 70 % và độ âm không khí 55 - 65 % là rất thuận lợi cho hoa sinh trưởng. Nếu độ 4m trên 80 % cây sinh trưởng mạnh nhưng lá dé bị mắc một sé bệnh nam.
Đặc biệt vào thời ky thu hoạch hoa cúc lá nhám cần thời tiết trong xanh và khô ráo, nếu độ 4m không khí quá cao sẽ làm cho hoa bị thối do nước đọng lại trong các tuyến mật của hoa, hoặc cây chứa nhiều nước dễ bị đồ non, việc thu hoạch gặp nhiều khó khăn và hoa lá thường bị dập nát (Nguyễn Xuân Linh, 2002).4 Dat trồng và dinh dưỡng Cúc là cây trồng cạn có bộ rễ ăn nông nên dat trồng phải cao ráo, thoát nước tốt, toi xỐp, nhiều mùn (Phạm Văn Duệ, 2005). Theo Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007), dinh dưỡng quyết định đến khả năng sinh trưởng, phát triển của cây cúc lá nhám. Cần cung cấp dinh dưỡng đầy đủ cân đôi cho cây. Theo Nguyễn Thị Kim Lý và ctv (2012), trong quá trình sinh trưởng, cây cúc cần đủ các chất đạm (N), lân (P2O0s), kali (K20) và các chat trung - vi lượng.
Dam có tác dụng thúc đây sự tăng trưởng thân lá, làm cây xanh tốt, sinh trưởng nhanh. Thiếu đạm cây can céi, lá úa vàng, hoa nhỏ và xấu, nhưng nếu thừa đạm cành sẽ phát triển nhiều, thân béo mập có thé không ra hoa. Cây cúc cần nhiều đạm từ sau khi trồng, cây còn nhỏ đến lúc bắt đầu phân hoá mam hoa. Lượng N nguyên chat cần cho 1.000 chậu từ 5,8 - 6,6 kg.
Lân giúp bộ rễ phát triển mạnh, cây con khoẻ, tỷ lệ sống cao, thân cứng, nhanh chóng ra hoa, hoa bền, màu sắc đẹp, giúp cây hút đạm nhiều hơn và tăng khả năng chống rết cây. Thiếu lân bộ rễ kém phát triển, cành ít hoa, hoa ra muộn, chóng tàn, màu sắc nhot nhạt. Cúc yêu cầu lân đặc biệt mạnh vào thời kì sau khi hình thành nụ và ra hoa. Lượng PzOs cần cho | ha từ 120 - 140 kg (Nguyễn Thị Kim Ly, 2012).
Kali giúp cho sự tông hợp và vận chuyên các chất đường bột trong cây, giúp cây chịu hạn, chịu rét và chống chịu sâu bệnh. Cùng với lân, kali đảm bảo quá trình quang hợp của cây hiệu quả. Thiếu kali màu sắc hoa nhot nhạt, mau tàn. Cây cúc cần kali vào thời kì kết nụ và ra hoa.
Lượng K20 cần cho 1 ha cúc từ 100 - 120 kg (Nguyễn Thị Kim Lý, 2012). Canxi rất cần cho sự phát triển của bộ rễ cúc, giúp cây tăng khả năng chịu nhiệt, ngoài ra canxi có tác dụng giảm chua, tăng độ phì cho đất. Canxi được bón cho cúc thông qua vôi bột. Lượng vôi bón cho 1 ha trồng cúc từ 250 - 300 kg (Nguyễn Thị Kim Lý, 2012).
Các chất vi lượng như kẽm (Zn), sắt (Fe), đồng (Cu), mangan (Mn), bo (B), Magié (Mg), lưu huỳnh (S) tuy cần ít nhưng cũng không thể thiếu. Các chất vi lượng làm tăng cường hoạt động của các men sinh học, giúp các quá trình quang hợp. Thiếu vi lượng cây sinh trưởng kém, lá nhỏ và có các đốm chết hoại. Đối với loại phân này thường bón qua lá vào thời kì cây con, với nồng độ thấp từ 0,01 - 0,02 % (Nguyễn Thị Kim Lý, 2012).4 Các thời kì sinh trưởng, phát triển của cây cúc lá nhám Các thời kì sinh trưởng phát triển của cúc lá nhám gồm: Giai đoạn nảy mầm (1 - 3 NSG): Độ pH phù hợp cho giai đoạn này là 5,8 - 6,2.