Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về cây đậu bắp 1.1 Nguồn gốc và phân loại 1.1 Nguồn gốc Đậu bắp là một trong những loại cây được trồng lâu đời nhất trên thế giới. Tài liệu tham khảo đầu tiên về đậu bắp được người Ai Cập thực hiện vào năm 1216 sau Công nguyên, mặc dù nhà thám hiểm thực vật Vavilov đã chỉ ra rằng có bằng chứng rõ ràng rằng cây trồng đã phát triển mạnh mẽ trước thời điểm đó ở vùng khí hậu nhiệt đới của Ethiopia, trong khi những người khác đã xác định nguồn gốc của nó là An Độ. Cuối cùng nó lan rộng hoàn toàn quanh Địa Trung Hải và về phía tây đến thé giới mới. Nó đến các thuộc địa của Mỹ vào đầu những năm 1700 được cho là do một trong hai nô lệ mang đến từ châu Phi hoặc thực dân Pháp đầu tiên ở Louisiana.
Thomas Jefferson đã ghi lại sự hiện diện của đậu bắp trong vườn của mình năm 1748. Nó tiếp tục lan rộng về phía bắc và được tìm thay ở Philadelphia vào năm 1781, và từ 1800 trở đi là được nhiều sách hướng dẫn làm vườn nhắc đến (William James Lamont, 1999).2 Phân loại Cây đậu bắp còn có tên gọi là mướp tây là một loài cây hằng niên với bộ nhiễm sắc thể 2n = 72, là loài thực vật có hoa. Cây đậu bắp có tên khoa học là (Abelmoschus esculentus L. Thuộc phân lớp Số (Dilleniidae), Bộ Bông (Malvales), Họ Bông (Malvaceae), Chỉ Abelmoschus, Loài Abelmoschus esculentus.2 Đặc điểm thực vật học Cây đậu bắp lá cây thân thảo mọc thang đứng,nhiều lông, rỗng, cao từ 1 - 2m, phân thành nhiều nhánh, thân có màu xanh đôi khi có vệt đỏ.
Lá cây màu xanh, hình tim hoặc xẻ chân vịt, mép lá có răng cưa lớn, có lông nhám. Rễ cây gồm một rễ chỉnh và nhiều rễ phụ, ăm sâu 40 - 50cm. Hoa mọc ở nách lá, đường kính 4 - 8cm, thuộc hoa 3 lưỡng tính có màu trắng hoặc vàng gồm một nhụy cái ở giữa và nhiều nhị đực xung quanh. Quả màu xanh sáng, đôi khi có màu đỏ, thuộc dạng quả nang, dài 20 - 25cm, mọc dựng đứng, gồm 3 - 5 vách ngăn kết hợp với nhau tạo thành các đường gờ đọc.
trong quả có chứa 10 - 20 hạt, đường kính 2 - 3mm (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007).3 Yêu cầu ngoại cảnh Nhiệt độ: cây đậu bắp có thé sinh trưởng trong khoảng nhiệt độ từ 1§ - 35°C, nhưng thích hợp nhất là từ 25 - 30°C, cần nhiều ánh sáng, trong điều kiện nhiệt độ này, nếu nhiệt độ càng cao thì sinh trưởng và phát triển càng nhanh. Nhiệt độ cao sẽ kéo dài thời gian ra hoa và tăng số đốt cây. Đối với sự nảy mầm, nhiệt độ thích hợp là từ 25 - 35°C (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007). Am độ và ánh sáng: yêu cầu âm độ đất cao từ 75 - 80%, am độ không khí từ 60 - 70%.
Đậu bắp là cây có phản ứng với độ dài ngày, mức độ mẫn cảm tùy thuộc vào giống. Tuy nhiên trong điều kiện nước ta, mặc dù là cây ngày ngắn nhưng đậu bắp vẫn ra hoa được trong cả mùa hè (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007). Nước: Theo Minh Quân (2004), mặc dù cây đậu bắp là cây có khả năng chịu hạn tốt, nhưng vẫn đòi hỏi nhiều nước để sinh trưởng và cho năng suất tối ưu. Việc thiếu nước trầm trọng gây tác động xâu đến sinh trưởng và phát triển của cây, mức thiệt hại tùy vào từng thời kỳ phát triển.
Đậu bắp dễ bị tác động do thiếu nước trong giai đoạn sinh sản, năng suất sẽ bị ảnh hưởng lớn nhất nếu thiếu nước lúc ra hoa và tạo quả. Nguồn nước sử dụng dé tưới không bi ô nhiễm có thé lay từ sông hay giếng khoan (Trích dẫn bởi Nguyễn Thị Thu Thảo, 2020). Đất: Theo Minh Quân (2004), đậu bắp cũng có khả năng chịu được đất nghèo dinh dưỡng. Đề cho cây sinh trưởng tốt thì đòi hỏi đất phải có hàm lượng chất hữu cơ cao, loại đất cát pha, thịt nhẹ hoặc đất trung bình, pH dao động từ 5,5 - 6,8.
Đất phải bằng phẳng và thoát nước tốt (Trích dẫn bởi Nguyễn Thị Thu Thảo, 2020). Đất dai và dinh dưỡng: cây đậu bắp có thé trồng trên mọi loại đất, nhưng không ngập úng, thoát nước tốt, tốt nhất là đất thịt pha cát có nhiều mùn, có độ pH từ 6 - 8, cây đậu bắp đòi hỏi lượng dinh dưỡng khá cao, khoảng 20 - 30 tan phân chuồng, 100 kg N, 100 kg PzOs, 60 kg K20, 500 kg phân bánh dầu cho một hecta với năng suất khoảng 10 tan/ha, khi trồng lên luống cao từ 20 - 30 cm dé tránh ngập ing (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007).2 Tổng quan về phân hữu cơ 1.1 Khái niệm về phân hữu cơ Phân bón là những chất hoặc hợp chất hữu cơ hoặc vô cơ có chứa một hoặc nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu được đưa vào sử dụng trong sản xuất nông nghiệp với mục đích chính là cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng nhằm giúp chúng sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất cao. Bao gồm: phân hóa học, phân khoáng, phân bữu cơ, phân vô cơ, phân đơn, phân phức hợp, phân sinh học, phân sinh hóa, phân bón lá, phân lỏng (Trần Thị Thu Hà, 2009). Phân hữu cơ là tên gọi chung cho các loại phân được sản xuất từ các vật liệu hữu cơ dư thừa thực vật, phân chuồng, phân xanh, chất thải thực vật, các phế phẩm nông nghiệp vùi trực tiếp vào đất hay ủ thành phân.
Sau khi phân giải có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây. Quan trọng hơn nữa là có khả năng làm tăng hiệu lực của phân bón hóa học, cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất (Ngô Ngọc Hưng, 2004).2 Vai trò của phân hữu cơ đối với cây trồng Theo Jen-Hshuan Chen (2006), phân hữu cơ có vai trò: - Cân bằng dinh dưỡng, giúp cây khỏe mạnh. - Tăng cường hoạt động sinh học của đất, giúp phân hủy các chất độc hại tốt hơn - Cải thiện nguồn cung cấp P trong đất. - Tăng cường sự phát triển của rễ đo cấu trúc đất tốt hơn.
- Tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đắt, do đó cải thiện khả năng trao đổi chất đinh dưỡng, tăng khả năng giữ nước của đất. - Cung cấp thức ăn và khuyến khích sự phát triển của vi sinh vật có ích và giun đất. - Ngăn chặn một số bệnh thực vật, bệnh truyền qua đất và ký sinh trùng.3 Hạn chế của phân hữu cơ Theo Jen - Hshuan Chen (2006): - Chúng có hàm lượng chat dinh dưỡng tương đối thấp, vì vay cần khối lượng lớn hon dé cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cây trồng. - Tốc độ giải phóng chất dinh dưỡng quá chậm dé đáp ứng nhu cau cây trồng trong một thời gian ngắn, do đó một số chất dinh dưỡng thiếu hụt có thé xảy ra.
- Không cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây sinh trưởng và phát triển tối đa. - Thanh phần dinh dưỡng không ổn định, chi phí sản xuất cao so với phân hóa học. - Sử dụng nhiều hoặc lâu dài cho đất nông nghiệp có thê dẫn đến nhiễm mặn hoặc kim loại nặng.3 Một số nghiên cứu về phân hữu cơ trên cây đậu bắp ở Việt Nam và thế giới 1.1 Một số nghiên cứu về phân hữu cơ trên cây đậu bắp ở Việt Nam Theo Nguyễn Khởi Nghĩa va ctv (2014), bã cà phê có thé sử dụng trực tiếp sau khi pha chế như là một dang phân bón hữu co cho cây đậu bắp bắp và không cần sử dụng phân bón hóa học cho cây trồng trong vụ đầu tiên. Hỗn hợp bã cả phê và vỏ trứng giúp duy trì pH đất, có xu hướng làm tăng hàm lượng chất hữu cơ, đạm tổng số và mật số vi sinh vật gồm vi khuẩn và nắm trong dat, giúp cây trồng khỏe mạnh hon, tăng kha năng chống chịu trong điều kiện môi trường bat lợi, thiếu dinh dưỡng và sâu bệnh hại, từ đó giúp gia tăng năng suất đậu bắp.
Theo Nguyễn Thị Phương va ctv (2018), bón kết hợp 5 tan/ha phân hữu cơ vi sinh từ bùn thai bia va bùn thải thủy sản với NPK - KC (140 N - 90 P20s - 90 K›O) cho thấy: Chiều đài qua 11,92 em và 11,79 em; đường kính quả 1,71 cm và 1,69 em và năng suất quả đạt 9,] tan/ha và 9,94 tan/ha lần lượt so với chỉ bón NPK/ha theo nông dân (208 N - 105 P2Os - 90 K20) là 5,62 tan/ha. Theo Phạm Thị Diễm Thúy và ctv (2020), việc giảm phân bón hóa học bằng cách thay thế hoàn toàn hoặc một phần bằng phân hữu cơ đã giúp gia tăng pH đất, chất hữu cơ, hàm lượng dinh dưỡng hữu dụng trong đất rõ rệt hơn so với chỉ bón hoàn toàn phân bón hóa học (đối chứng). Các nghiệm thức có bón phân hữu cơ cho độ ngọt cao hơn 6 nhưng tích lũy nitrate trong trái đậu bắp thấp hơn bón hoàn toàn phân bón hóa học. Bón 70% NPK + 30% phân gà cho năng suất ngang bằng với bón 100% NPK và 50% NPK + 50% phân gà, nhưng lại cho năng suất cao hơn bón hoàn toàn phân gà.2 Một số nghiên cứu về phân hữu cơ trên cây đậu bắp trên thế giới Có sự gia tăng đáng kê các thông số tăng trưởng của đậu bắp bao gồm (chiều cao cây, số nhánh, điện tích lá, hàm lượng chat diệp lục, tốc độ quang hop, khối lượng quả, số quả và cuối cùng là số hạt) tại nghiệm thức bón phân gia cầm.
Năng suất đậu bắp tại lô bón phân gia cầm có số quả cao nhất với 9,67, trong khi lô đối chứng có số quả thấp nhất với 2,00. Dựa trên những phát hiện của các thí nghiệm, có thể kết luận rằng việc bón phân gia cầm đã làm tăng đáng ké tốc độ tăng trưởng và năng suất trên đậu bap (Mohammad Moneruzzaman Khandaker va ctv, 2017). Đối với bón đơn lẻ, bón 120 kg N/ha của một trong hai nguồn dinh dưỡng từ Neem và phân vô co là phù hợp, nhưng dé có năng suất đậu bắp tối ưu ở vùng rừng mưa nhiệt đới cua Nigeria, sự kết hợp của cả phân bón hữu cơ và vô cơ, đặc biệt là ở mức 60 kg N/ha từ mỗi nguồn dinh dưỡng được khuyến khích. Sự kết hợp của 60 kg NPK + 60 kg Neem/ha làm tăng năng suất (8,43 tan/ha) và các thành phan năng suất của đậu bắp, trong khi 90 kg NPK + 30 kg Neem/ha và 30 NPK + 90 kg Neem/ha làm tăng hàm lượng chất dinh dưỡng trong cây đậu bắp (Ayito va ctv, 2018).