Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây đậu bắp (Abelmoschus esculentus (L.) Moench) là một trong những loài rau ăn quả nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều chất chống oxy hóa, chất xơ, khoáng chất magie, folate cùng các vitamin nhóm A, C và K. Tại khu vực phía Nam Việt Nam, cây đậu bắp thích nghi tốt với nền nhiệt ẩm, có khả năng canh tác quanh năm và sinh trưởng được trên nhiều loại đất khác nhau, kể cả những chân đất nghèo dinh dưỡng. Tuy nhiên, tập quán canh tác thâm canh phụ thuộc chủ yếu vào phân bón hóa học vô cơ kéo dài đã và đang gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng đối với môi trường đất: làm suy thoái lý tính và hóa tính đất, suy giảm mật độ vi sinh vật hữu ích và tiềm ẩn rủi ro tồn dư hóa chất ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
Trước yêu cầu phát triển nền nông nghiệp bền vững, việc bổ sung các hợp chất hữu cơ sinh học để cải tạo đất và tăng cường hiệu suất sử dụng phân bón là hướng đi tất yếu. Axit humic (Humic Acid) là hợp chất cao phân tử hữu cơ giữ vai trò trung tâm trong phức hệ mùn, có khả năng kích thích sự phát triển của bộ rễ, cải thiện khả năng hấp thu khoáng chất và nâng cao tính đệm của đất. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu định lượng về liều lượng sử dụng chế phẩm axit humic hạt thương mại nhập khẩu trên cây đậu bắp tại vùng đất xám bạc màu Đông Nam Bộ còn khá hạn chế.
Nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn trên, đề tài khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông học đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng với mục tiêu xác định lượng phân bón Diamond Grow Humic Acid Granules 99% thích hợp cho cây đậu bắp trồng trên nền đất xám Thủ Đức, giúp cây sinh trưởng khỏe, nâng cao năng suất thương phẩm và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm ba nội dung chính:
- Bố trí thí nghiệm đồng ruộng nhằm theo dõi, phân tích và đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, mức độ phát sinh sâu bệnh và năng suất của giống đậu bắp TN 2 dưới tác động của các liều lượng phân bón Diamond Grow Humic Acid Granules 99% khác nhau.
- Lượng toán và phân tích hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức thí nghiệm dựa trên chi phí đầu tư thực tế và giá trị nông sản thu hoạch.
- Thu thập, xử lý và kiểm định thống kê sinh học toàn bộ dữ liệu thực nghiệm để rút ra kết luận và khuyến cáo ứng dụng có độ tin cậy.
Đối tượng nghiên cứu là giống đậu bắp TN 2 được khảo nghiệm dưới tác động của 5 mức bón chế phẩm Diamond Grow Humic Acid Granules 99%. Phạm vi không gian nghiên cứu được tiến hành tại Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi thời gian nghiên cứu diễn ra trong vụ Thu Đông, từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý luận của nghiên cứu dựa trên các nguyên lý sinh lý học thực vật và nông hóa học về dinh dưỡng cây trồng. Đậu bắp thuộc bộ Bông (Malvales), họ Bông (Malvaceae), có nhu cầu dinh dưỡng khoáng tương đối cao và đòi hỏi đất tơi xốp, thoát nước tốt. Lý thuyết về vai trò của phân hữu cơ (Jen-Hshuan Chen, 2006; Ngô Ngọc Hưng, 2004) khẳng định các hợp chất hữu cơ giúp cân bằng dinh dưỡng, cải thiện cấu trúc đất, tăng dung tích hấp thu cation (CEC) và kích thích hoạt động sinh học vùng rễ. Chế phẩm axit humic (Lê Thị Mai Linh, 2016; Lê Công Nhất Phương và cộng sự, 2020) đóng vai trò chất kích kháng sinh học tự nhiên, hỗ trợ rễ phát triển phân nhánh, hoạt hóa các enzyme trao đổi chất và làm giảm sự cố định lân trong dung dịch đất.
Phương pháp nghiên cứu thực tế là thí nghiệm thực nghiệm đồng ruộng đơn yếu tố, được bố trí theo khối đầy đủ ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design - RCBD) với 5 nghiệm thức và 3 lần lặp lại (tổng cộng 15 ô cơ sở). Diện tích mỗi ô cơ sở là 20 m² (5 m x 4 m), tổng diện tích khu thí nghiệm là 450 m².
Năm nghiệm thức phân bón khảo nghiệm gồm:
- Nghiệm thức 1 (ĐC): 0 kg/ha phân bón Diamond Grow Humic Acid Granules 99% (DGHA)
- Nghiệm thức 2: 4 kg/ha DGHA
- Nghiệm thức 3: 8 kg/ha DGHA
- Nghiệm thức 4: 12 kg/ha DGHA
- Nghiệm thức 5: 16 kg/ha DGHA
Nền phân bón chung cho toàn bộ các nghiệm thức trong thí nghiệm gồm: 500 kg phân gà hữu cơ vi sinh + 1.000 kg vôi bột (CaO > 85%) + 100 kg N (Urea Phú Mỹ 46,3% N) + 90 kg P₂O₅ (lân nung chảy Văn Điển 15% P₂O₅) + 68 kg K₂O (kali Phú Mỹ 61% K₂O)/ha. Chế phẩm Diamond Grow Humic Acid Granules 99% (chứa 60% Humic Acid, 12% K₂O hữu hiệu, 1% Ca) được chia bón 2 lần qua hình thức hòa tan với nước tưới gốc vào thời điểm 10 ngày sau trồng (1/2 lượng) và 40 ngày sau trồng khi cây bắt đầu ra hoa (1/2 lượng còn lại).
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu gồm:
- Dữ liệu thổ nhưỡng: mẫu đất tầng mặt (0–20 cm) trước thí nghiệm được phân tích tại Viện Nghiên cứu Công nghệ sinh học & Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM theo các tiêu chuẩn quốc gia (TCVN).
- Dữ liệu khí tượng: diễn biến nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa và giờ nắng từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2023 tại khu vực TP.HCM.
- Dữ liệu nông học đồng ruộng: theo dõi định kỳ 7 ngày/lần trên 5 cây chỉ tiêu được chọn theo đường zic-zac ở 2 hàng giữa của mỗi ô thí nghiệm, thu thập các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao thân chính, số cành cấp 1, số lá), sâu bệnh hại (sâu đục quả, bọ xít, lở cổ rễ, đốm nâu), kích thước quả (thước kẹp điện tử) và các cấu thành năng suất.
- Xử lý số liệu: phân tích phương sai (ANOVA) và trắc nghiệm phân hạng LSD bằng phần mềm R Studio và bảng tính Microsoft Excel.
| Chỉ tiêu lý hóa đất trước thí nghiệm |
Đơn vị tính |
Kết quả |
Phương pháp phân tích |
| Cát thô |
% |
28,9 |
TCVN 8567:2010 |
| Cát mịn |
% |
34,3 |
TCVN 8567:2010 |
| Thịt |
% |
33,5 |
TCVN 8567:2010 |
| Sét |
% |
3,3 |
TCVN 8567:2010 |
| pH_KCl (1:5) |
- |
5,1 |
TCVN 5979:2007 |
| Dung tích hấp thu cation (CEC) |
meq/100 g |
1,8 |
TCVN 8568:2010 |
| Chất hữu cơ |
% |
1,07 |
TCVN 8941:2011 |
| N tổng số |
% |
0,070 |
TCVN 6498:1999 |
| P₂O₅ tổng số |
% |
0,120 |
TCVN 8940:2011 |
| K₂O tổng số |
% |
0,072 |
TCVN 8660:2011 |
| N dễ tiêu |
mg/100 g |
1,58 |
TCVN 5255:2009 |
| P₂O₅ dễ tiêu |
mg/100 g |
58,6 |
TCVN 5256:2009 |
| K₂O dễ tiêu |
mg/100 g |
6,3 |
TCVN 8662:2011 |
Nội dung chính theo từng chương
Mở đầu
Phần Mở đầu thiết lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng thoái hóa đất xám do bón phân vô cơ và triển vọng cải thiện đất của chế phẩm axit humic. Tác giả xác định rõ mục tiêu tối ưu hóa lượng phân bón Diamond Grow Humic Acid Granules 99% cho cây đậu bắp giống TN 2 tại vùng đất xám Thủ Đức, quy định các nhiệm vụ đo đếm nông học, lượng toán kinh tế và giới hạn phạm vi nghiên cứu thực hiện từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2023.
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các tư liệu khoa học liên quan đến đề tài:
- Giới thiệu sinh học cây đậu bắp: nguồn gốc xuất xứ, phân loại phân loại học thực vật (loài Abelmoschus esculentus L., bộ Malvales, họ Malvaceae, bộ nhiễm sắc thể 2n = 72); cấu trúc rễ cọc ăn sâu 40–50 cm; đặc điểm thân, lá xẻ chân vịt, hoa lưỡng tính và dạng quả nang 5 gờ dọc. Các yêu cầu ngoại cảnh gồm ngưỡng nhiệt độ sinh trưởng thích hợp từ 25–30°C, ẩm độ đất 75–80%, khả năng chịu hạn tương đối nhưng mẫn cảm với thiếu nước ở thời kỳ ra hoa và đậu quả.
- Tổng quan về phân hữu cơ: phân tích cơ chế cân bằng dinh dưỡng, cải thiện hoạt tính sinh học đất, tăng khả năng giữ nước, kích thích rễ của phân hữu cơ (Jen-Hshuan Chen, 2006); chỉ rõ các mặt hạn chế như hàm lượng khoáng thấp, tốc độ giải phóng chậm và giá thành sản xuất. Tổng thuật các nghiên cứu ứng dụng bã cà phê, vỏ trứng, bùn thải bia và phân gia cầm trên đậu bắp tại Việt Nam và quốc tế (Mohammad Moneruzzaman Khandaker và cộng sự, 2017; Ayito và cộng sự, 2018).
- Tổng quan về Axit Humic: định nghĩa bản chất cấu trúc cao phân tử chứa các nguyên tố C, H, O, N tan trong kiềm; cơ chế thúc đẩy nảy mầm, phát triển bộ rễ, giải độc nhôm và đệm pH đất. Phân tích các dẫn liệu nghiên cứu ứng dụng axit humic trên cà chua, dưa leo, ngò rí, nấm bào ngư ở Việt Nam và các nghiên cứu của Ertan Yildirim (2007), M. Sharif (2006) trên cây ngô, lúa mì và cà chua trên thế giới.
Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện thực nghiệm, vật liệu khảo nghiệm và quy trình kỹ thuật:
- Điều kiện thí nghiệm: ghi nhận nhiệt độ trung bình từ 28,2 đến 29,5°C; ẩm độ 79–83%; lượng mưa cao nhất vào tháng 9 (400,5 mm) và thấp nhất vào tháng 8 (252,8 mm). Đất thí nghiệm có thành phần cơ giới cát pha thịt (cát thô 28,9%, cát mịn 34,3%, thịt 33,5%), phản ứng chua mạnh (pH_KCl = 5,1), dung tích hấp thu cation rất thấp (1,8 meq/100 g), nghèo đạm và kali nhưng giàu lân dễ tiêu.
- Vật liệu nghiên cứu: phân bón Diamond Grow Humic Acid Granules 99% (nguồn gốc nhập khẩu từ Mỹ), giống đậu bắp TN 2 (Trang Nông), các loại phân vô cơ thương phẩm và thuốc bảo vệ thực vật sinh học/hóa học (Tasieu 1.9EC, Thanatox 5EC, RidomilGold 68WG).
- Quy trình thí nghiệm: kỹ thuật lên luống cao 20–25 cm; xử lý hạt ngâm nước ấm 5–6 giờ và ủ nứt nanh; mật độ gieo 2 hạt/hốc, tỉa định cây đạt khoảng cách 80 cm x 50 cm (mật độ tính toán 25.000 cây/ha); bón lót toàn bộ lân, vôi và phân gà; bón thúc 4 lần vào 10, 25, 40 và 60 ngày sau trồng (NST).
- Phương pháp theo dõi và tính toán: quy ước đo đếm các thời kỳ sinh trưởng (50% trổ hoa, 50% cho thu hoạch quả); các chỉ tiêu sinh trưởng và sâu bệnh hại trên 5 cây cố định; kích thước 10 quả mẫu lứa 2; phân loại quả thương phẩm loại 1 (dài 14–18 cm, khối lượng > 16 g, thẳng, không sâu bệnh) và loại 2 (hơi cong hoặc vết bệnh nhẹ); công thức tính năng suất lý thuyết, năng suất thực tế, năng suất hao hụt và hạch toán hiệu quả kinh tế.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả quan trắc và phân tích thống kê cụ thể:
- Thời gian sinh trưởng và phát dục: phân bón DGHA không làm biến đổi có ý nghĩa thống kê đối với ngày ra hoa (43,7–45,3 NSG), ngày ra quả (46,3–47,3 NSG), ngày thu hoạch quả đầu tiên (47,6–48,7 NSG) và ngày kết thúc thu hoạch (78,0–81,3 NSG).
- Sinh trưởng thân lá: chiều cao cây ở 15 và 22 NSG không khác biệt giữa các nghiệm thức. Từ 29 đến 57 NSG, phân bón DGHA kích thích chiều cao cây rõ rệt (p < 0,01). Nghiệm thức bón 8 kg/ha luôn đạt giá trị cao nhất tại tất cả các mốc: 29 NSG đạt 23,82 cm; 36 NSG đạt 33,37 cm; 43 NSG đạt 46,74 cm; 50 NSG đạt 97,19 cm; và 57 NSG đạt 117,42 cm (vượt trội so với đối chứng đạt 108,61 cm). Ngược lại, số cành cấp 1 (dao động 7,20–7,47 cành/cây ở 50 NSG) và số lá trên thân chính (dao động 12,40–13,13 lá/thân ở 57 NSG) không chịu ảnh hưởng của các liều lượng DGHA.
- Tình hình sâu bệnh: tỷ lệ bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani) giai đoạn 15–25 NSG (5,0–13,3%), bệnh đốm nâu (Macrosporium sp.) ở 42 NSG (7,3–14,0%), sâu đục quả (Deanolis albizonalis) ở 47 NSG (10,7–17,3%) và bọ xít (Andrallus spinidens) ở 60 NSG (5,0–10,8%) đều không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức bón phân.
- Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: số quả trung bình mỗi cây không sai khác (18,0–20,7 quả/cây). Khối lượng trung bình 1 quả khác biệt rất có ý nghĩa (p < 0,01), đạt cao nhất ở nghiệm thức 8 kg/ha (23,48 g/quả) so với đối chứng (19,41 g/quả). Năng suất lý thuyết cao nhất ở mức bón 8 kg/ha (12,2 tấn/ha). Năng suất thương phẩm loại 1 cao nhất ở mức 8 kg/ha (7,3 tấn/ha), đồng thời làm giảm năng suất loại 2 xuống mức thấp nhất (0,4 tấn/ha).
- Hiệu quả kinh tế: bón 8 kg/ha DGHA đem lại lợi nhuận 79,97 triệu đồng/ha và hiệu quả kinh tế đạt mức tăng 104,8% so với đối chứng không bón humic acid.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm định lượng về ảnh hưởng của chế phẩm Diamond Grow Humic Acid Granules 99% trên cây đậu bắp trồng tại vùng đất xám bạc màu, được tổng hợp chi tiết qua các bảng dưới đây:
| Nghiệm thức (Lượng DGHA) |
Chiều cao cây 57 NSG (cm) |
Số cành cấp 1 50 NSG (cành/cây) |
Số lá thân chính 57 NSG (lá/thân) |
Số quả trung bình (quả/cây) |
Khối lượng quả trung bình (g/quả) |
| 0 kg/ha (ĐC) |
108,61 c |
7,27 |
12,60 |
18,0 |
19,41 b |
| 4 kg/ha |
110,67 bc |
7,20 |
13,13 |
19,3 |
21,62 a |
| 8 kg/ha |
117,42 a |
7,20 |
12,40 |
20,7 |
23,48 a |
| 12 kg/ha |
114,49 ab |
7,20 |
12,53 |
19,3 |
21,37 ab |
| 16 kg/ha |
112,98 abc |
7,47 |
12,53 |
18,0 |
21,64 a |
| Mức ý nghĩa (p) |
** (p < 0,01) |
ns |
ns |
ns |
** (p < 0,01) |
| Nghiệm thức |
Năng suất lý thuyết (tấn/ha) |
Năng suất thực tế (tấn/ha) |
Năng suất quả loại 1 (tấn/ha) |
Năng suất quả loại 2 (tấn/ha) |
Hao hụt (tấn/ha) |
Bội thu (%) |
Tổng chi phí (tr.đ/ha) |
Doanh thu (tr.đ/ha) |
Lợi nhuận (tr.đ/ha) |
Hiệu quả kinh tế HQi (%) |
| 0 kg/ha (ĐC) |
8,7 b |
6,7 |
4,7 b |
0,8 a |
1,2 |
- |
66,95 |
106,0 |
39,05 |
- |
| 4 kg/ha |
10,0 b |
7,5 |
5,8 ab |
0,6 ab |
1,1 |
11,9 |
71,49 |
125,0 |
53,51 |
37,0 |
| 8 kg/ha |
12,2 a |
7,9 |
7,3 a |
0,4 b |
0,2 |
17,9 |
72,03 |
152,0 |
79,97 |
104,8 |
| 12 kg/ha |
10,3 b |
7,2 |
5,7 ab |
0,7 ab |
0,8 |
7,5 |
72,57 |
124,5 |
51,93 |
33,0 |
| 16 kg/ha |
9,7 b |
7,4 |
5,7 ab |
0,8 a |
0,9 |
10,4 |
73,11 |
126,0 |
52,89 |
35,4 |
| Mức ý nghĩa (p) |
** |
ns |
* (p < 0,05) |
** |
ns |
- |
- |
- |
- |
- |
(Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa thống kê; ns: khác biệt không có ý nghĩa thống kê).
Các phát hiện và đóng góp chính của đề tài:
- Đóng góp khoa học: Làm sáng tỏ cơ chế tác động của phân bón axit humic dạng hạt đối với cây rau ăn quả trên đất xám. Nghiên cứu chứng minh axit humic không làm biến đổi thời gian sinh trưởng phát dục (ra hoa, kết quả, thu hoạch), số cành nhánh hay số lá, nhưng có tác động kích thích mạnh đến tốc độ vươn cao của thân chính và sự tích lũy sinh khối trên từng quả (khối lượng trung bình quả tăng từ 19,41 g lên 23,48 g).
- Giá trị nông học và chất lượng: Bón humic acid ở liều lượng tối ưu 8 kg/ha giúp chuyển dịch cơ cấu phẩm cấp quả vượt trội: tăng năng suất thương phẩm loại 1 lên 7,3 tấn/ha (so với đối chứng 4,7 tấn/ha), giảm tỷ lệ quả loại 2 xuống 0,4 tấn/ha và giảm năng suất hao hụt xuống chỉ còn 0,2 tấn/ha.
- Giải pháp và khuyến cáo kỹ thuật: Khuyến cáo nông dân áp dụng liều lượng bón 8 kg/ha phân bón Diamond Grow Humic Acid Granules 99%, kết hợp trên nền 500 kg phân gà hữu cơ vi sinh + 1 tấn vôi bột + 100 kg N + 90 kg P₂O₅ + 68 kg K₂O/ha, mật độ trồng hàng cách hàng 80 cm, cây cách cây 50 cm. Giải pháp này giúp tăng năng suất thực tế lên 7,9 tấn/ha (bội thu 17,9%) và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất (tăng 104,8% lợi nhuận so với đối chứng).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận đã nêu rõ một số hạn chế do điều kiện thực hiện:
- Giới hạn về kinh phí nghiên cứu: Đề tài chưa tiến hành phân tích được các chỉ tiêu chuyên sâu về hàm lượng dinh dưỡng khoáng hấp thu trong mô thân lá và quả của cây đậu bắp, cũng như chưa phân tích đánh giá lại các biến đổi về độ phì nhiêu, dung tích hấp thu cation và mật độ vi sinh vật trong đất sau khi kết thúc chu kỳ thí nghiệm.
- Giới hạn về quy mô thời gian và không gian: Thí nghiệm mới được triển khai trong phạm vi 1 vụ gieo trồng (vụ Thu Đông 2023) tại một tiểu vùng đất xám Thủ Đức, chưa thực hiện lặp lại qua nhiều mùa vụ hoặc trên các loại đất khác để kiểm chứng tính ổn định của liều lượng khuyến cáo.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:
- Tiếp tục khảo nghiệm liều lượng bón 8 kg/ha DGHA trên các mùa vụ khác nhau trong năm và trên các vùng đất xám bạc màu, đất cát pha khác tại khu vực Đông Nam Bộ.
- Bổ sung các chỉ tiêu phân tích sinh hóa: đo lường hàm lượng đạm, lân, kali tích lũy trong mô thực vật và theo dõi các chỉ số lý hóa sinh của đất sau thu hoạch để đánh giá toàn diện hiệu quả cải tạo đất của axit humic.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Nông học, Khoa học cây trồng, Nông hóa - Thổ nhưỡng: Tài liệu cung cấp quy trình chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng RCBD đối với cây rau ăn quả, phương pháp theo dõi các chỉ tiêu nông học và kỹ thuật xử lý thống kê ANOVA trên phần mềm R Studio.
- Kỹ sư nông nghiệp và cán bộ khuyến nông: Phần quy trình chăm sóc, phương pháp chia tỷ lệ bón thúc 4 giai đoạn kết hợp hòa tan humic acid tưới gốc là tài liệu tham khảo trực tiếp để xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác đậu bắp thâm canh an toàn.
- Nông dân và các cơ sở sản xuất rau màu thương phẩm: Dữ liệu tính toán chi phí, doanh thu và tỷ suất lợi nhuận tại Chương 3 cung cấp cơ sở kinh tế rõ ràng để quyết định đầu tư sử dụng phân bón humic acid nhằm gia tăng tỷ lệ quả loại 1 xuất bán.
Câu hỏi thường gặp
1. Phân bón Diamond Grow Humic Acid Granules 99% tác động có ý nghĩa thống kê đến những chỉ tiêu nông học nào?
Phân bón DGHA tác động có ý nghĩa thống kê đến chiều cao cây ở các giai đoạn từ 29 đến 57 NSG (p < 0,01), khối lượng trung bình mỗi quả (p < 0,01), năng suất lý thuyết (p < 0,01), năng suất thương phẩm quả loại 1 (p < 0,05) và năng suất quả loại 2 (p < 0,01). Phân bón không làm biến đổi có ý nghĩa thống kê đối với các thời kỳ sinh trưởng phát dục (ngày ra hoa, ra quả, thu hoạch), số cành cấp 1, số lá thân chính, kích thước quả, số quả trung bình mỗi cây, tỷ lệ sâu bệnh hại và năng suất thực tế.
2. Liều lượng bón nào mang lại hiệu quả kinh tế và năng suất thương phẩm tối ưu nhất?
Nghiệm thức bón 8 kg/ha Diamond Grow Humic Acid Granules 99% cho kết quả tốt nhất ở hầu hết các chỉ tiêu giá trị kinh tế: khối lượng trung bình quả đạt 23,48 g; năng suất lý thuyết đạt 12,2 tấn/ha; năng suất thương phẩm loại 1 đạt 7,3 tấn/ha; năng suất hao hụt giảm xuống 0,2 tấn/ha; năng suất thực tế đạt 7,9 tấn/ha (bội thu 17,9%). Nghiệm thức này đạt tổng thu nhập 152 triệu đồng/ha, lợi nhuận 79,97 triệu đồng/ha và hiệu quả kinh tế tăng 104,8% so với đối chứng không bón.
3. Đất xám trước khi bố trí thí nghiệm có đặc tính lý hóa như thế nào?
Theo kết quả phân tích của Viện Nghiên cứu Công nghệ sinh học & Môi trường, đất thí nghiệm có thành phần cơ giới cát pha thịt (cát thô 28,9%, cát mịn 34,3%, thịt 33,5%, sét 3,3%), thoát nước tốt nhưng giữ nước kém. Về mặt hóa học, đất có phản ứng chua nhiều (pH_KCl = 5,1), dung tích hấp thu cation CEC rất thấp (1,8 meq/100 g), hàm lượng đạm tổng số (0,070%) và đạm dễ tiêu (1,58 mg/100 g) ở mức thấp, kali tổng số (0,072%) và kali dễ tiêu (6,3 mg/100 g) ở mức rất thấp, chất hữu cơ ở mức trung bình (1,07%), riêng hàm lượng lân tổng số (0,12%) và lân dễ tiêu (58,6 mg/100 g) ở mức trung bình.
4. Quy trình hòa tưới phân bón DGHA trong thí nghiệm được thực hiện vào các thời điểm nào?
Lượng phân bón Diamond Grow Humic Acid Granules 99% theo từng nghiệm thức được chia làm 2 lần hòa tan với nước để tưới gốc: lần thứ nhất bón 1/2 tổng lượng vào thời điểm 10 ngày sau trồng (kết hợp với 1/4 lượng N, tưới cách gốc khoảng 10 cm); lần thứ hai bón 1/2 lượng còn lại vào thời điểm 40 ngày sau trồng khi cây bắt đầu ra hoa (kết hợp với 1/4 N + 1/4 K₂O, tưới cách gốc khoảng 20 cm).
5. Việc bón các lượng phân DGHA có làm gia tăng tỷ lệ sâu bệnh hại trên ruộng thí nghiệm không?
Kết quả theo dõi cho thấy việc bón các mức DGHA từ 0 đến 16 kg/ha không làm gia tăng và cũng không tạo sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ nhiễm các đối tượng dịch hại chính: bệnh lở cổ rễ dao động 5,0–13,3%, bệnh đốm nâu dao động 7,3–14,0%, sâu đục quả dao động 10,7–17,3% và bọ xít hại dao động 5,0–10,8%. Tỷ lệ sâu bệnh duy trì ở mức thấp nhờ các biện pháp canh tác thoát nước và phòng trừ sinh học định kỳ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Thạch Trung Hiếu đã giải quyết thành công bài toán thực nghiệm nông học về tối ưu hóa liều lượng phân bón Diamond Grow Humic Acid Granules 99% cho giống đậu bắp TN 2 trên chân đất xám Thủ Đức. Nghiên cứu chứng minh liều lượng bón 8 kg/ha chia làm hai lần tưới gốc trên nền phân cân đối giúp cây tăng trưởng chiều cao tối ưu, nâng cao khối lượng quả và gia tăng năng suất thương phẩm quả loại 1 đạt 7,3 tấn/ha. Với năng suất thực tế 7,9 tấn/ha và lợi nhuận 79,97 triệu đồng/ha (hiệu quả kinh tế tăng 104,8% so với đối chứng), kết quả của đề tài cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc ứng dụng phân bón humic acid nhằm nâng cao hiệu quả canh tác rau ăn quả bền vững tại vùng Đông Nam Bộ.