CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây bưởi da xanh 1.1 Nguồn gốc và phân bố Bưởi da xanh có tên khoa học là Citrus maxima (Burm.) Merr, thuộc chi Citrus, nhóm cam quýt, họ Rutaceae, được trồng phô biến ở các tỉnh phía đông và vùng ĐBSCL của Việt Nam. Người đầu tiên trồng bưởi da xanh ở Việt Nam là ông Trần Văn Luông tại ấp Thanh Sơn II, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, được phát hiện thông qua các đợt hội thi trái cây ngon do Viện cây ăn qua miền Nam phối hợp cùng Trung tâm Hội chợ triển lãm Cần Thơ đứng ra tô chức. Đến nay, giống bưởi này được nhân giống và trồng ở nhiều nơi khác nhưng Bến Tre vẫn là vùng đất nổi danh với sản lượng và chất lượng. Bưởi da xanh đã được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam công nhận là giống quốc gia và đã được xuất khẩu sang nhiều thị trường khác nhau trên thé giới (Thái Hà, Dang Mai, 2011).2 Phân loại thực vật Theo Thai Hà và Đặng Mai (2011), BDX được phân loại thực vật học: tên khoa học Citrus maxima (Burm.) Merr, thuộc chi Citrus, nhóm cam quýt, họ Rutaceae.
Giới: Thực vat (Plantae) Họ: Rutaceae Họ phụ: Aurantioideae Chi: Citrus Loài: Citrus maxima (Burm.) Merr Tén tiéng anh: Pomelo 1.2 Tình hình sản xuất bưởi da xanh ở Việt Nam Trong những năm gần đây, tình hình trồng và sản xuất BDX ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc xuất khâu: năm 2022, Việt Nam đã xuất khẩu lô bưởi da xanh đầu tiên sang thị trường nước Mỹ. Điều này đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc mở cửa cho quả bưởi của Việt Nam tại thị trường lớn này. Nhiều địa phương trọng điểm trồng bưởi da xanh của ĐBSCL có thê trở thành vùng nguyên liệu chuẩn cả về số lượng và chất lượng. Các doanh nghiệp và nhà vườn đã sẵn sàng dé đưa loại nông sản này sang Mỹ.
Đối với các khu vườn đã được chứng nhận VietGap và GlobalGap, các tiêu chuẩn bổ sung được tiếp nhận nhanh chóng (theo Tạp chí Điện Tử, 2022). Tại tỉnh Đồng Nai, điện tích trồng bưởi năm 2019 là khoảng hơn 8000 ha và đang có xu hướng gia tăng do lợi ích mà trái bưởi này mang tới cho các hộ nhà vườn (báo cáo của Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Đồng Nai, 2019). Theo báo kinh doanh (2020), một số huyện như Tân Phú, Định Quán, Thống Nhat đang chuyền đồi đất canh tác sang trồng BDX với diện tích trên 3.000 ha và trung bình 1 ha tính đến năm thứ 6 có thê thu về 500 - 600 triệu đồng (Phạm Hữu Tài và Phạm Thị Tân, 2020). Riêng trên địa bàn huyện Tân Phú, diện tích trồng BDX khoảng 2.500ha, là địa phương có diện tích trồng bưởi lớn thứ 2 của tỉnh với sản lượng đạt khoảng 40.3 Đặc điểm hình thái Thân, cành: bưởi da xanh là loài cây thân gỗ với chiều cao trung bình từ 3 m— 4m khi trưởng thành.
Vỏ thân cây giống bưởi da xanh có màu vàng nhạt. Các nhánh nhỏ của cây phát triển dần theo từng giai đoạn. Càng lớn, nhánh càng tỏa ra xum xuê. Với đặc điểm này, cây thường được trồng dé che chắn, chống xói mòn rat hiệu quả.
Trong quá trình trao đối chat của cây, giữa các nhánh nhỏ của thân thường tiết nhựa. Lá: theo quan diém tiên hóa thì lá bưởi cũng như lá của các loại cây có múi khác thuộc loại lá kép. Dâu vét còn lại là eo lá dưới gôc lá đơn. Lá bưởi da xanh rộng hình trái xoan, tròn ở gôc, mép nguyên, có khớp trên cuông lá, cuông lá có dia cánh to, chiêu đài lá 11 cm — 12 cm, rộng 4,5 cm — 5,5 cm.
Hoa: Bưởi da xanh có hoa màu trắng, nhụy vàng. Màu hoa của cây giông bưởi đa xanh không khác so với các loại bưởi khác. Hoa của bưởi da xanh loại thuộc hoa kép, mọc thành từng chùm khoảng 6 — 10 bông. Trái: trái bưởi da xanh có hình cầu, nặng trung bình khoảng từ 1,2 — 2,5 kg/trái.
Vỏ trái có màu xanh khi còn non, lúc chín sẽ có màu hơi vàng, dễ lột và khá mỏng. Tép bưởi có màu hồng đẹp mat. Trái của cây giống bưởi da xanh có vị ngọt thanh, không chua, có mùi thơm đặc trưng.4 Điều kiện ngoại cảnh Theo Nguyễn Hữu Thọ (2015), cây bưởi là loài cây ăn trái có tính thích ứng rộng, phân bồ rộng rãi, thích nghi với khí hậu nóng 4m vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, yếu tô khí hậu thời tiết cũng ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng, mã trái, độ lớn trái, năng suất và chất lượng trái.
Thé nhưỡng: bưởi là loại cây nhìn chung không kén đất. Ở nước ta, theo Trần Thế Tục và ctv (1995) và một số tác giả cho rằng cây bưởi có thé trong trén nhiéu loai dat khác nhau như: đất thịt nặng ở đồng bằng, đất phù sa châu thổ, đất đồi núi, đất phù sa cô, đất thịt nhẹ đất cát pha, đất bạc màu.Đắt trồng bưởi tốt phải có tầng canh tác day ít nhất là 0,6 m và thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình. Đất tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, có hàm lượng hữu cơ cao > 3%, không bị nhiễm mặn, mực nước ngầm thấp dưới 0,8 m. Không nên chọn đất sét nặng, ít thâm nước, đất tầng dưới có nhiều cát dé bị mất nước, hoặc có lớp đá ong hạn chế rễ phát triển, hoặc có mực nước ngầm cao đều không thích hợp cho sự phát triển của bộ rễ và sinh trưởng của cây (Huỳnh Trí Đức và ctv, 2006).
Bưởi thích ứng với pH tương đối rộng từ 4 — 8, tuy nhiên tốt nhất là đất chua nhẹ pH từ 5,5 đến 6,5. Bưởi trồng trong điều kiện đất chua nhẹ cây sinh trưởng khỏe và cho phẩm chất cao. Đề phát triển trồng cây có múi, ngoài đất ở vùng ĐBSCL thi còn có thể phát triển trên đất vùng miền Đông Nam Bộ và cao nguyên Trung Bộ (Huỳnh Trí Đức và ctv, 2006). Nhiệt độ không khí: bưởi nói chung có thé trồng ở vùng có nhiệt độ từ 12°C — 39°C, nhiệt độ thích hợp nhất là từ 23°C — 29°C, nhiệt độ thấp hơn 12,5°C và cao hơn 5 40°C cây ngừng sinh trưởng.
Nhìn chung, nhiệt độ là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sống của cây cũng như năng suất, chất lượng quả (Nguyễn Hữu Thọ, 2015). Am độ không khí: Âm độ không khí cũng ảnh hưởng tới thụ phan và thụ tinh, 4m độ cao làm tốc độ nảy mầm cũng như sinh trưởng của ống phấn nhanh hơn tốc độ mở của vòi nhụy gây vỡ ống phan và quá trình thụ tinh không được thực hiện. Ngoài ra âm độ không khí có liên quan tới số ngày mưa, đặc biệt là mưa phùn làm hạn chế sự hoạt động của côn trùng cũng như sự tung phan của hoa, âm độ thích hợp cho thụ phan hoa từ 80 — 85% (Nguyễn Hữu Thọ, 2015). Ánh sáng: Cây BDX ưa ánh sáng tán xạ có cường độ 10.000 lux, cường độ và chất lượng ánh sáng cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây, khi thiếu ánh sáng cây sinh ra những cành mềm yếu, lá to, phát triển cành vượt và khó hình thành các mầm hoa.
Ánh sáng còn có tác dụng đối với trái, trên cây những trái nằm phía ngoài sáng có hình đáng đẹp, hàm lượng đường cao hơn trái nằm ở trong tán, hoặc ở những nơi cành lá nhiều thiếu ánh sáng, nhưng nếu cường độ ánh sáng cao, vỏ trái bị nám (Huỳnh Trí Đức và ctv, 2006). Lượng mưa: Bưởi là cây không những cần nhiệt độ mà còn 4m độ cao. Âm độ không khí thấp hoặc biến động nhiều, sẽ ảnh hưởng đến quá trình bốc, thoát hơi nước của cây, ảnh hưởng đến sinh trưởng và nhất là chất lượng trái làm cho vỏ dày, ít thơm, chất lượng kém. Ở những vùng ven biển như các nước trồng cây có múi bờ biển Địa Trung Hải, có 4m độ cao, sự bốc thoát hơi nước ít làm cho vỏ trái đẹp, nhẫn mỏng, nhiều nước chất lượng thơm ngon.
Cây có múi cần nhiều nước, nhất là trong thời kỳ ra hoa và kết quả nhưng cũng rất sợ ngập ing. Âm độ đất thích hợp nhất là 70 — 80%. Lượng mưa cần khoảng 1000 — 2000 mm/năm. Trong mùa nang cần phải tưới nước và lượng muối NaCl trong nước tưới không quá 3 g/L nước (Huỳnh Trí Đức va ctv, 2006).5 Sâu, bệnh hại thường gặp trên cay bưởi da xanh Bo trĩ trên cây có múi (Scirtothrips dorasalis): Bo tri trưởng thành rất nhỏ, dai khoảng 0,8 — 1mm, co thé có mau vang nhat dén mau vang dam, canh mau vang cam, hai bên ria cánh có nhiêu lông nhỏ dai.
Bọ trĩ non mới nở có cơ thê trong suôt, rat nhỏ, 6 chân dai, bụng nhọn, không cánh. Vòng đời bọ trĩ khoảng 15 — 20 ngày, cả ấu trùng và thành trùng bọ trĩ đều gây hại trên cây bưởi và cả trên các cây họ cam, quýt khác. Chúng gây hại trên lá non, hoa và trái non: trên lá non, bọ trĩ làm biến màu, cong queo; trên trái non, bọ trĩ tạo những mảng màu xám hoặc những phần lồi màu bạc trên vỏ trái (theo Đỗ Công Hoàng, 2016) Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella Stainton): Trứng có hình bau dục, rất nhỏ, dài khoảng 0,2 mm — 0,3 mm, thường trúng được đẻ ở mặt dưới lá, gần gân chính. Trứng mới được đẻ ra có màu trong suốt, khi sắp nở trứng có màu trắng vàng.
Thành trùng là một loại bướm rất nhỏ, thân hình mỏng manh, dài khoảng 2 mm, sải cánh rộng khoảng 4— 5 mm. Toàn thân có màu vàng nhạt, có ánh bạc. Cánh sau rất hep so với cánh trước, cả hai cánh đều có rìa lông dài. Cánh trước có 2 gân dọc màu đen kéo dài đến giữa cánh, khoảng 1/3 về phía đầu cánh có chiều dài râu đầu khoảng 3/4 chiều dai của cánh.
Do kích thước nhỏ và hoạt động về đêm nên trong điều kiện tự nhiên rất khó phát hiện được thành trùng. Đường đục do sâu tạo nên có ánh bạc rất dễ nhận diện (Nguyễn Thị Thu Cúc và ctv, 2006). Rệp sáp (7oxopfera citricidus): Rệp sáp có kích thước nhỏ, thân mềm phủ day phan hoặc sáp trắng, chân ít đi chuyền, gây hại trên bề mặt lá hay cành non bằng chích hút nhựa làm rụng lá. Rệp sáp phát triển nhiều trong những tháng khô và giảm trong mùa mưa, chúng lây truyền nhờ kiến, sống cộng sinh (Trần Văn Hai, 2007).
Nhện đỏ (Zetranychus sp): Nhén đỏ có kích thước nhỏ bé. Cơ thé dai khoảng 0,4 mm. Cơ thé có màu đỏ nhưng có pha sắc hồng. Các lông cứng trên cơ thé đều mọc từ u lỗi mau đỏ.
Trứng có màu đó, gần hình cầu, có cuống thắng đứng xuất phát từ đỉnh quả trứng.