Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thuộc vùng Đông Nam Bộ, là vùng chuyên canh cây có múi quy mô lớn của tỉnh với các loại cây chủ lực như cam sành, quýt đường và bưởi da xanh (tập trung tại các xã Tân Định, Hiếu Liêm, Lạc An, Thường Tân và Tân Mỹ). Cây bưởi (Citrus grandis) mang lại giá trị kinh tế cao cho nông hộ với mức lãi ước tính 40 - 100 triệu đồng/ha/năm ở giai đoạn kinh doanh. Tuy nhiên, tập quán canh tác thâm canh phụ thuộc nhiều vào phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật đã làm suy thoái tài nguyên đất, phá vỡ cân bằng sinh thái tự nhiên và gia tăng tính kháng của các loài dịch hại. Mô hình "ruộng lúa bờ hoa" đã chứng minh hiệu quả dẫn dụ thiên địch trên đồng ruộng nhưng chưa được nghiên cứu áp dụng bài bản trên vườn cây ăn quả. Do đó, việc xây dựng hệ thống trồng xen đa tầng (cây che phủ đất, cây hoa dẫn dụ và cây rau ngắn ngày) theo hướng nông nghiệp sinh thái là yêu cầu cấp thiết.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Xác định hệ thống trồng xen thích hợp trên vườn bưởi canh tác theo hướng nông nghiệp sinh thái.
  2. Đánh giá ảnh hưởng của các hệ thống xen canh đến mức độ tăng trưởng sinh dưỡng (chiều cao, đường kính tán, chu vi thân) và khả năng ra hoa, đậu quả của cây bưởi.
  3. Đánh giá khả năng thu hút, gia tăng mật số và độ đa dạng của quần thể thiên địch, đồng thời xác định mức độ suy giảm của các loài dịch hại chính (sâu vẽ bùa, ruồi đục quả, bệnh loét).
  4. Phân tích ảnh hưởng của cây trồng xen đến các chỉ tiêu lý tính, hóa tính và mật độ các nhóm vi sinh vật có ích trong đất vùng rễ (vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân, phân giải cellulose, nấm cộng sinh Mycorrhiza).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây bưởi da xanh 5 năm tuổi (trồng năm 2018), các loại cây trồng xen (cỏ đậu Arachis pintoi, sao nhái Cosmos bipinnatus, cúc lá nhám Zinnia elegans, cúc vạn thọ Tagetes erecta, cà tím Solanum melongena, húng quế Ocimum basilicum, đậu bắp Abelmoschus esculentus), quần thể côn trùng và hệ vi sinh vật đất.
  • Phạm vi không gian: Vườn bưởi kinh doanh tại xã Hiếu Liêm, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; các phân tích lý hóa đất, vi sinh vật và giám định hình thái côn trùng thực hiện tại phòng thí nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 08/2023 đến tháng 12/2023 (thời điểm giao thời giữa cuối mùa mưa và đầu mùa khô).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý thuyết nông nghiệp sinh thái (NNST) theo tiếp cận của Tống Thị Thúy Hảo (2011), Trần Đức Viên (2023) và 10 yếu tố cốt lõi của FAO (2019), chú trọng nguyên lý đa dạng sinh học, tính cộng hưởng và kinh tế tuần hoàn. Cơ chế kiểm soát sinh học bảo tồn thông qua nguyên lý "đẩy - kéo" (push-pull) được vận dụng để thiết kế hệ sinh thái nông nghiệp đa loài: tầng mặt đất sử dụng cỏ đậu che phủ và cố định đạm sinh học; tầng giữa sử dụng cây hoa có mật và phấn hoa để nuôi dưỡng, duy trì vòng đời thiên địch (ong ký sinh họ Braconidae, Encyrtidae; bọ rùa; nhện săn mồi); tầng mép mương trồng cây rau họ Solanaceae và Malvaceae cung cấp thức ăn bổ sung cho ấu trùng và trưởng thành có ích.

Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố (CRD) có cải tiến, gồm 4 nghiệm thức (NT) với 3 lần lặp lại (LLL), tổng cộng 12 ô cơ sở (mỗi ô rộng 144 m² gồm 4 cây bưởi):

Nghiệm thức Thành phần hệ thống xen canh Ký hiệu Cấu trúc bố trí trên ô cơ sở (144 m²)
NT1 Giữ cỏ tự nhiên + Sao nhái + Cà tím CTN + SN + CT Thảm cỏ tự nhiên + 2 hàng hoa (160 cây) + 2 hàng rau (160 cây)
NT2 Cỏ đậu + Cúc lá nhám + Húng quế CD + CLN + HQ Thảm cỏ đậu (2.975 hom) + 2 hàng hoa (160 cây) + 2 hàng rau (160 cây)
NT3 Cỏ đậu + Vạn thọ + Đậu bắp CD + VT + ĐB Thảm cỏ đậu (2.975 hom) + 2 hàng hoa (160 cây) + 2 hàng rau (160 cây)
NT4 Đối chứng (không trồng xen, giữ tự nhiên) ĐC Giữ hiện trạng tự nhiên của vườn, không bổ sung cây hoa và rau

Cấu trúc dải xen canh được thiết kế đồng bộ: Thảm cỏ phủ chiếm 79% tổng số lượng cá thể thực vật trong ô (mật độ 25 hom/m²), bố trí cách gốc bưởi 30 cm đến mép tán bưởi; 2 hàng hoa chiếm 10,5% bố trí dọc theo líp tại mép tán, cách thảm cỏ 30 cm (khoảng cách cây 30 x 30 cm); 2 hàng rau chiếm 10,5% bố trí dọc theo mép mương, cách hàng hoa 30 cm và cách mép mương 20 cm (khoảng cách 30 x 30 cm). Khoảng cách cách ly giữa các nghiệm thức là 6,5 m (tương đương 1 líp bưởi và 2 mương nước). Toàn bộ khu thí nghiệm tuyệt đối không sử dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật hóa học; dinh dưỡng được cung cấp bằng phân trùn quế hoai mục (20 kg/cây/năm), tưới nước định kỳ 1 - 2 ngày/lần bằng hệ thống béc phun mưa có cánh.

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:

  • Chỉ tiêu cây bưởi và cây xen: Đo chiều cao, đường kính tán, chu vi thân (trước và sau thí nghiệm); đếm số hoa và quả định kỳ 1 tháng/lần trên 4 cành phân bố 4 hướng; cân sinh khối tươi và sinh khối khô của cây xen sau khi sấy ở 70°C đến khối lượng không đổi.
  • Điều tra dịch hại và côn trùng: Thực hiện theo quy chuẩn QCVN 01-38:2010/BNNPTNT và tiêu chuẩn TCVN 13268-4:2021 vào các đợt bưởi ra đọt non bằng 4 phương pháp phối hợp: bẫy dính màu vàng (kích thước 20 x 15 cm), bẫy hố (tô nhựa 20 x 20 cm), khay điều tra (20 x 18 x 5 cm) và vợt côn trùng (đường kính miệng 30 cm, lưới sâu 75 cm, cán dài 100 cm). Mẫu côn trùng bảo quản trong cồn 80° và định danh hình thái đến cấp Bộ dưới kính hiển vi.
  • Chỉ tiêu đất và vi sinh vật: Lấy mẫu đất tầng 0 - 20 cm theo TCVN 4046:1985 tại vị trí 2/3 bán kính tán (1 mẫu đại diện trước thí nghiệm và 12 mẫu sau thí nghiệm). Phân tích dung trọng bằng phương pháp ống ring (Blake và Hartge, 1986); tỷ trọng bằng bình picnometer; pH (ISO 10390:2005); chất hữu cơ (TCVN 8941-2011); N tổng số (TCVN 6498-1999); P tổng số và dễ tiêu (TCVN 8940-2011, TCVN 8942-2011); K tổng số và dễ tiêu (TCVN 8660-2011, TCVN 8662-2011); Ca²⁺ và Mg²⁺ trao đổi (TCVN 8569-2010); CEC bằng phương pháp Sodium axetat (Chapman, 1965). Mật số vi sinh vật định lượng bằng kỹ thuật đếm khuẩn lạc (CFU/g đất) trên các môi trường chọn lọc: PCA (VSV tổng số), Ashby Mannitol Agar (VSV cố định đạm), Gerretsen (VSV phân giải lân), thạch CMC 1% bổ sung đỏ Congo 1% (VSV phân giải cellulose). Mật độ bào tử nấm Mycorrhiza tách chiết theo kỹ thuật sàng ướt ly tâm nổi (TCVN 12560-1:2018); tỷ lệ xâm nhiễm Mycorrhiza trên rễ xác định bằng phương pháp nhuộm Trypan blue (TCVN 12560-2:2018).
  • Phân tích thống kê: Xử lý số liệu trên Microsoft Excel 2016; phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định phân hạng Duncan ở mức ý nghĩa p < 0,05 hoặc p < 0,01 bằng phần mềm RStudio.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây bưởi (Citrus grandis), đòi hỏi nhiệt độ thích hợp 23 - 29°C, ẩm độ đất 70 - 80%, cường độ ánh sáng 10.000 - 15.000 lux và đất tơi xốp có tầng canh tác dày trên 0,6 m với pH tối ưu 5,5 - 6,5. Tác giả tổng hợp dữ liệu sản xuất giai đoạn 2017 - 2021: diện tích bưởi thế giới năm 2021 đạt 360.892 ha với sản lượng 9,56 triệu tấn (FAOSTAT, 2023); diện tích bưởi Việt Nam năm 2021 đạt 80.291 ha với sản lượng 1,03 triệu tấn. Tài liệu mô tả chi tiết quy luật phát sinh của ba dịch hại chủ yếu: sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella), ruồi vàng đục quả (Bactrocera spp.) và bệnh loét do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv. citri. Đồng thời, chương 1 phân tích vai trò sinh thái của các nhóm thiên địch bắt mồi (ruồi ăn rầy Syrphidae, bọ chân chạy Carabidae, bọ rùa Coccinellidae) và thiên địch ký sinh (ong kén nhỏ Braconidae, ong cự Ichneumonidae, ong Encyrtidae). Phần cuối chương tổng kết các nghiên cứu xen canh quốc tế (xen đậu tương, ngô, dưa hấu dưới tán cam, quýt) và trong nước (mô hình bờ hoa ruộng lúa, xen khoai môn trong vườn bưởi), cùng đặc tính nông học của 7 loại cây xen được lựa chọn.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu tại xã Hiếu Liêm (Bắc Tân Uyên) trên nền đất nén chặt (dung trọng 1,43 g/cm³, độ rỗng 42,8%), pH trung tính (pH_H2O = 6,81; pH_KCl = 6,16), hàm lượng hữu cơ cao (5,75%), đạm tổng số đạt 0,33%, lân tổng số 0,04%, kali tổng số 1,60%, P2O5 dễ tiêu 5,82 meq/100g, K2O dễ tiêu 1,37 meq/100g, CEC đạt 5,99 meq/100g. Tác giả ghi nhận diễn biến thời tiết giai đoạn thí nghiệm với tổng số giờ nắng dao động từ 154,1 đến 229,2 giờ, nhiệt độ trung bình từ 26,4 đến 27,4°C, lượng mưa giảm mạnh từ đỉnh 342,6 mm (tháng 10) xuống 57,2 mm (tháng 12). Chương này trình bày toàn bộ quy cách thiết kế thí nghiệm CRD cải tiến, kích thước dải thảm phủ, quy trình bón lót phân trùn quế, chế độ tưới phun mưa, danh mục hóa chất pha chế môi trường vi sinh và các tiêu chuẩn quốc gia/quốc tế tương ứng cho từng chỉ tiêu phân tích sinh thái học.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm sau 4 tháng triển khai:

  • Sinh trưởng và năng suất của cây bưởi: Các nghiệm thức xen canh không gây ra sự cạnh tranh tiêu cực về mặt sinh lý; mức tăng trưởng chiều cao cây, đường kính tán và chu vi thân ở các nghiệm thức NT1, NT2, NT3 không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê so với đối chứng NT4. Số lượng hoa và quả đậu trên cành theo dõi duy trì ổn định qua các tháng.
  • Hiệu quả kiểm soát dịch hại và đa dạng côn trùng: Tỷ lệ xuất hiện của các bộ côn trùng biến động rõ rệt giữa các nghiệm thức. Trong đó, nghiệm thức NT1 (cỏ tự nhiên + sao nhái + cà tím) thể hiện hiệu quả rõ rệt nhất trong việc giảm tỷ lệ quả bị ruồi đục quả (Bactrocera spp.) tấn công và giảm số lượng ruồi thu được trong bẫy dính màu vàng (khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với NT4). Đồng thời, NT1 và NT2 gia tăng đáng kể mật số các nhóm thiên địch bắt mồi (nhện săn mồi, bọ cánh cứng Carabidae, kiến vàng Oecophylla smaragdina) và ong ký sinh (Braconidae, Encyrtidae). Mức độ gây hại của sâu vẽ bùa và bệnh loét cũng được khống chế ở ngưỡng thấp.
  • Tính chất lý hóa và vi sinh vật đất: Hệ thống xen canh không làm xáo trộn mật số vi sinh vật tổng số và vi sinh vật cố định đạm. Đặc biệt, nghiệm thức NT2 (cỏ đậu + cúc lá nhám + húng quế) làm tăng có ý nghĩa thống kê mật số vi sinh vật phân giải cellulose trong đất so với đối chứng. Các chỉ tiêu bào tử nấm Mycorrhiza và tỷ lệ xâm nhiễm rễ bưởi được duy trì. Tuy nhiên, các chỉ tiêu hóa tính đất (hàm lượng N, P, K dễ tiêu và cation trao đổi) ở các ô trồng xen có xu hướng giảm nhẹ do cây xen ngắn ngày tiêu thụ dinh dưỡng trong giai đoạn sinh trưởng khi chưa đến kỳ cày vùi trả lại tàn dư sinh khối.

Kết quả và đóng góp

Các kết quả thực nghiệm nổi bật được tổng hợp trong bảng so sánh sau:

Nhóm chỉ tiêu Nghiệm thức 1 (CTN+SN+CT) Nghiệm thức 2 (CD+CLN+HQ) Nghiệm thức 3 (CD+VT+ĐB) Nghiệm thức 4 (Đối chứng)
Sinh trưởng bưởi Tăng trưởng bình thường, không suy giảm tán/thân Tăng trưởng bình thường, không suy giảm tán/thân Tăng trưởng bình thường, không suy giảm tán/thân Sinh trưởng tự nhiên
Hạn chế ruồi đục quả Hiệu quả giảm hại cao nhất, khác biệt rất có ý nghĩa (p < 0,01) Giảm nhẹ so với đối chứng Giảm trung bình Tỷ lệ hại và mật số ruồi cao nhất
Thu hút thiên địch Tăng mật số nhện bắt mồi, bọ cánh cứng, ong ký sinh Tăng mật số bọ cánh cứng, bọ rùa, ong ký sinh Mật số thiên địch ở mức trung bình Mật số thiên địch thấp nhất
VSV phân giải cellulose Tương đương đối chứng Đạt mật số cao nhất, khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) Tăng nhẹ Mật số thấp
VSV cố định đạm & Mycorrhiza Duy trì ổn định Duy trì ổn định, rễ có nấm cộng sinh tốt Duy trì ổn định Duy trì ổn định
Hóa tính đất Dinh dưỡng dễ tiêu giảm nhẹ Dinh dưỡng dễ tiêu giảm nhẹ Dinh dưỡng dễ tiêu giảm nhẹ Ổn định theo nền đất ban đầu

Khóa luận đề xuất các giải pháp kỹ thuật cụ thể:

  1. Ứng dụng mô hình xen canh theo công thức NT1 (giữ cỏ tự nhiên + hoa sao nhái + cà tím) hoặc NT2 (cỏ đậu + cúc lá nhám + húng quế) vào quy trình quản lý dịch hại tổng hợp sinh thái (Eco-IPM) cho vùng bưởi Bắc Tân Uyên.
  2. Cần định kỳ cắt tỉa sinh khối cỏ đậu và thân lá cây rau sau thu hoạch để tủ gốc hoặc ủ phân hữu cơ vi sinh bón trả lại đất nhằm khắc phục tình trạng sụt giảm dinh dưỡng khoáng ngắn hạn.
  3. Bổ sung lượng phân hữu cơ hoai mục (phân trùn quế) phù hợp với nhu cầu của cả cây trồng chính và cây trồng xen.

Đóng góp khoa học và thực tiễn: Khóa luận đã mở rộng thành công nguyên lý "ruộng lúa bờ hoa" sang hệ sinh thái vườn cây ăn quả thân gỗ lâu năm tại vùng Đông Nam Bộ; chứng minh trên thực nghiệm rằng việc kết hợp cây che phủ đất, cây hoa dẫn dụ và cây rau ngắn ngày không cạnh tranh tiêu cực với cây bưởi mà còn tạo ra nơi cư trú, nguồn phấn/mật hoa giúp nhân nuôi quần thể thiên địch bản địa, giảm thiểu áp lực sâu bệnh mà không cần can thiệp hóa chất bảo vệ thực vật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra các giới hạn kỹ thuật trong quá trình thực hiện:

  • Thời gian nghiên cứu ngắn (từ tháng 08 đến tháng 12/2023, tương đương 4 tháng), chỉ bao quát một giai đoạn phát triển sinh dưỡng - ra hoa đậu quả non, chưa đánh giá được toàn diện năng suất thương phẩm và phẩm chất quả bưởi khi thu hoạch chín hoàn toàn.
  • Chưa tiến hành định lượng nguồn dinh dưỡng khoáng và chất hữu cơ thực tế hoàn trả lại đất sau khi tàn dư sinh khối của các cây trồng xen bị phân hủy.
  • Nghiên cứu chỉ mới tập trung đánh giá tiêu chí đa dạng sinh học trong bộ 10 tiêu chuẩn nông nghiệp sinh thái của FAO; chưa phân tích toàn diện các tiêu chuẩn kinh tế - xã hội và sức chống chịu thời tiết dài hạn.
  • Nguồn kinh phí hạn chế nên chỉ phân tích được 01 mẫu hóa lý đất tổng hợp trước thí nghiệm và 12 mẫu sau thí nghiệm; mẫu côn trùng chỉ mới giám định hình thái sơ bộ đến cấp Bộ và một số Họ phổ biến, chưa giải trình tự hoặc định danh đến cấp loài.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Kéo dài thời gian theo dõi qua nhiều chu kỳ thu hoạch liên tiếp (2 - 3 năm) để đánh giá đầy đủ tác động của xen canh đến năng suất, độ brix, chất lượng quả bưởi và hiệu quả kinh tế ròng của mô hình.
  • Ứng dụng phương pháp sinh học phân tử để định danh chính xác thành phần loài thiên địch và đánh giá chuỗi thức ăn sinh thái trong vườn bưởi.
  • Nghiên cứu sâu về chu trình dinh dưỡng đất, đo lường tốc độ khoáng hóa của thảm cỏ đậu và tàn dư cây hoa, rau nhằm tối ưu hóa công thức bón phân hữu cơ bổ sung.

Giá trị tham khảo

Đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Nông học, Bảo vệ thực vật, Khoa học đất, Nông nghiệp sinh thái và Quản lý tài nguyên nông nghiệp.

Các nội dung có giá trị ứng dụng cao gồm:

  • Quy trình thiết kế và bố trí dải xen canh đa tầng: Tỷ lệ không gian, khoảng cách cách ly giữa các dải thực vật (cây che phủ cách gốc 30 cm, dải hoa mép tán, dải rau mép mương) có thể ứng dụng trực tiếp cho các vườn cây có múi (cam, quýt, bưởi) ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Phương pháp luận điều tra sinh thái đồng ruộng: Quy trình phối hợp 4 loại bẫy (bẫy dính màu vàng, bẫy hố, khay điều tra, vợt) theo chuẩn QCVN 01-38:2010/BNNPTNT và hệ thống chỉ tiêu phân tích vi sinh vật đất (CFU, nấm cộng sinh Mycorrhiza rễ theo TCVN 12560:2018) là tài liệu mẫu chuẩn xác cho các nghiên cứu thực nghiệm nông học.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã thử nghiệm những mô hình xen canh cụ thể nào trên vườn bưởi da xanh?
Tác giả đã thử nghiệm 4 nghiệm thức: NT1 (giữ cỏ tự nhiên + hoa sao nhái + cà tím), NT2 (cỏ đậu + hoa cúc lá nhám + húng quế), NT3 (cỏ đậu + hoa cúc vạn thọ + đậu bắp) và NT4 làm đối chứng (không trồng xen, giữ cỏ tự nhiên).

2. Tỷ lệ và mật độ bố trí các loại cây trồng xen trên một ô thí nghiệm được thiết kế như thế nào?
Trên diện tích mỗi ô 144 m² (gồm 4 cây bưởi), cây phủ đất (cỏ đậu) chiếm 79% (2.975 hom, mật độ 25 hom/m²), 2 hàng cây hoa chiếm 10,5% (160 cây/ô, khoảng cách 30 x 30 cm tại mép tán bưởi) và 2 hàng rau chiếm 10,5% (160 cây/ô, khoảng cách 30 x 30 cm tại mép mương).

3. Hệ thống xen canh nào đem lại hiệu quả tốt nhất trong việc kiểm soát dịch hại và thu hút thiên địch?
Nghiệm thức NT1 (cỏ tự nhiên + sao nhái + cà tím) đạt hiệu quả vượt trội nhất trong việc làm giảm tỷ lệ quả bị ruồi vàng (Bactrocera spp.) đục và giảm số lượng ruồi vào bẫy dính (khác biệt rất có ý nghĩa so với đối chứng), đồng thời tăng mạnh mật độ các loài thiên địch như nhện săn mồi, bọ cánh cứng và ong ký sinh.

4. Việc trồng xen cỏ đậu kết hợp cúc lá nhám và húng quế (NT2) có tác động gì đến vi sinh vật đất?
Nghiệm thức NT2 giúp làm tăng mật số vi sinh vật phân giải cellulose trong đất ở mức có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với đối chứng, đồng thời duy trì mật số ổn định của vi sinh vật cố định đạm và nấm rễ cộng sinh Mycorrhiza.

5. Vì sao các chỉ tiêu hóa tính đất vùng rễ bưởi lại có xu hướng giảm nhẹ sau 4 tháng trồng xen?
Do các loại cây xen ngắn ngày (cây hoa và cây rau) hút dinh dưỡng khoáng trong quá trình sinh trưởng nhanh, trong khi thời gian thí nghiệm 4 tháng chưa đủ để tàn dư thực vật bị cày vùi và phân giải hoàn trả lại dưỡng chất cho đất.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Sử Minh Hiển đã chứng minh tính khả thi và hiệu quả sinh thái rõ rệt của mô hình xen canh đa loài (kết hợp cỏ che phủ, cây hoa dẫn dụ và cây rau ngắn ngày) trên vườn bưởi da xanh canh tác sinh thái tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Các hệ thống xen canh không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng của cây bưởi, giúp gia tăng mật độ quần thể thiên địch có ích, hạn chế đáng kể sự gây hại của ruồi đục quả và cải thiện mật số vi sinh vật phân giải chất hữu cơ trong đất. Đây là công trình thực nghiệm nông học bài bản, cung cấp cơ sở khoa học và giải pháp thực tiễn có giá trị nhằm phát triển nền nông nghiệp sinh thái bền vững, giảm thiểu phụ thuộc vào hóa chất nông nghiệp.