Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1.1 Tổng quan về cây bưởi 1.1 Nguồn gốc và phân loại học cây bưởi Phan loại thực vật học: Bưởi thuộc họ: Rutaceae; Họ phụ: Aurantioideae; Chi: Citrus; Chi phu: Eucitrus; Loài: Citrus grandis (bưởi); Theo tác giả Nguyễn Hữu Tho (2015) đã trích dẫn rang “Tác giả Robert cho rằng, bưởi là cây có xuất xứ từ Malaysia và quần đảo Polynesia, sau đó được di thực sang Ấn Độ, phía nam Trung Quốc và các nước Châu Âu, Mỹ. Trong khi đó tác giả Giucovki cho rằng nguồn gốc của bưởi có thê là quần đảo Laxongdơ. Tác giả Chawalit Niyomdham, (1992) cũng cho rằng bưởi có nguồn gốc ở Malaysia, sau đó lan sang Indonesia, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Địa Trung Hải và Mỹ, vùng sản xuất chính ở các nước Phương Đông (Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam)”. Bưởi (Citrus grandis) là một trong những loài cây ăn quả có múi được trồng khá phổ biến ở nước ta cũng như các nước khu vực Châu Á như: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Philippin.
Cây bưởi đã mang lại giá trị kinh tế cao cho người nông dân. Thực tế cho thấy, cây bưởi sau trồng 4 đến 5 năm có thể thu lãi 40 - 100 1 triệu đồng/hecta/năm, năng suất có thể đạt 250 quả/cây ở vườn có mật độ 400 - 500 cây/hecta. Trong những năm vừa qua, giá trị xuất khẩu quả bưởi của Việt Nam không ngừng tăng lên từ 17,000 USD (2006) lên đến hơn 1,2 triệu USD (2012). Hiện nay, cây ăn quả được xem là đối tượng quan trọng tham gia tích cực vào việc chuyên đổi cơ cấu cây trồng, tăng cao hiệu quả kinh tế và cải thiện môi trường sinh thái, nhất là ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc.2 Đặc điểm thực vật học Đặc điểm thực vật học có liên quan đến kỹ thuật trồng trọt, để có các biện pháp kỹ thuật thích hợp chúng ta cần phải tìm hiểu đặc điểm của các bộ phận, thân, cành, lá, hoa, trái.
Theo Thái Hà và Đăng Mai, 2011 định nghĩa đặc điểm thực vật của cây bưởi như sau: 1.1 Thần, cành Bưởi loài cây thân gỗ với chiều cao trung bình từ 3 m - 4 m khi trưởng thành. Vỏ thân cây bưởi có màu vàng nhạt. Các nhánh nhỏ của cây phát triển dần theo từng giai đoạn. Càng lớn, nhánh càng tỏa ra xum xuê.
Với đặc điểm này, cây thường được trồng dé che chắn, chống xói mòn rất hiệu quả. Trong quá trình trao đối chất của cây, giữa các nhánh nhỏ của thân thường tiết nhựa.2 Lá Theo quan điểm tiến hóa thì lá bưởi cũng như lá của các loại cây có múi khác thuộc loại lá kép. Dấu vết còn lại là eo lá đưới gốc lá đơn. Lá bưởi rộng hình trái xoan, tròn ở gốc, mép nguyên, có khớp trên cuống lá, cuống lá có cánh rộng, chiều dai lá 11 cm - 12 cm, rộng 4,5 cm - 5,5 cm.3 Hoa Bưởi có hoa màu trắng, nhụy vàng.
Hoa của bưởi loại thuộc hoa kép, mọc thành từng chùm khoảng 6 - 10 bông.4 Trái Trái bưởi có hình cầu, nặng trung bình khoảng từ 1,2 - 2,5 kg/ trái. Vỏ trái có màu xanh khi còn non, lúc chín sẽ có màu hơi vàng, dễ lột và khá mỏng. Tép bưởi có màu hồng đẹp mắt. Trái của cây giống bưởi có vị ngọt thanh, không chua, có mùi thơm đặc trưng.3 Nhu cầu sinh thái Theo tác giả Huỳnh Trí Đức và ctv (2006) đã định nghĩa các nhu cầu sinh thái của cây bưởi như sau: 1.1 Nhiệt độ Cây có múi có nguồn sốc nhiệt đới và á nhiệt đới, nên cây có đặc tính thích nghi tốt với điều kiện ở khu vực này, nghĩa là khí hậu không chênh lệch quá lớn giữa mùa đông và mùa hè.
Vì thế nên bưởi thích sự ấm áp và chịu lạnh kém. Cây có thé sinh trưởng được từ 40° vĩ độ Bắc và 40° vĩ độ Nam, nhiệt độ thích hợp nhất từ 23 - 29°C, cây ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ dưới 13°C và chết khi nhiệt độ - 5°C.2 Ánh sáng Bưởi cũng như những thực vật khác, dé hoàn thành chu trình phát dục, cây tiến hành quang hợp dé tích lũy chất khô dự trữ cho các quá trình sinh trưởng sinh dưỡng cây cần có một lượng ánh sáng nhất định. Khi thiếu ánh sáng cây sinh ra những cành mềm yếu, lá to, phát triển cành vượt và khó hình thành các mầm hoa. Ánh sáng còn có tác dụng đối với trái, trên cây những trái nằm phía ngoài sáng có hình dang đẹp, hàm lượng đường cao hơn trái nằm ở trong tán, hoặc ở những nơi cành lá nhiều thiếu ánh sáng, nhưng nếu cường độ ánh sáng cao, vỏ trái bị nám.
Cường độ ánh sáng thích hợp đối với bưởi thay đổi từ 10,000 - 15,000 lux (tương đương nang sáng lúc 8 giờ hoặc nang chiều lúc 16 giờ). Nhu cầu về ánh sáng cũng thay đổi tùy theo giống và bưởi cần ánh sáng tương đối cao trong họ cây có múi.3 Am độ và lượng mưa Bưởi là cây không những cần nhiệt độ mà còn 4m độ cao. Âm độ không khí thấp hoặc biến động nhiều, sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình bốc, thoát hơi nước của cây, ảnh hưởng đến sinh trưởng và chất lượng trái làm cho vỏ dày, ít thơm, chất lượng kém. Ở những vùng ven biển như các nước trồng cây có múi bờ biển Địa Trung Hải, có âm độ cao, sự bốc thoát hơi nước ít làm cho vỏ trái đẹp, nhan mỏng, nhiều nước chất lượng thơm ngon.
Cây có múi cần nhiều nước, nhất là trong thời kỳ ra hoa và kết quả nhưng cũng rất sợ ngập ung, tuy nhiên dé hình thành mầm hoa, cây bưởi thường cần trải qua một giai đoạn khô ở vùng rễ. Âm độ đất thích hợp nhất là 70 % - 80 %. Lượng mưa cần khoảng 1000 - 2000 mm/năm. Trong mùa nắng cần phải tưới nước và lượng muối NaCl trong nước tưới không quá 3 g/lít nước.4 Thổ nhưỡng Bưởi là loại cây nhìn chung không kén đất.
Đất trồng bưởi tốt phải có tầng canh tác dày ít nhất là 0,6 m và thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình. Đất tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, có hàm lượng hữu cơ cao >3%, không bị nhiễm mặn, mực nước ngầm thấp dưới 0,8 m. Không nên chọn đất sét nặng, ít thấm nước, đất tầng dưới có nhiều cát dé bị mat nước, hoặc có lớp đá ong hạn chế rễ phát triển, hoặc có mực nước ngầm cao đều không thích hợp cho sự phát triển của bộ rễ và sinh trưởng của cây. Bưởi thích ứng với độ pH tương đối rộng từ 4.0 - 8,0, tuy nhiên tốt nhất là đất chua nhẹ pH từ 5,5 đến 6,5.
Bưởi trồng trong điều kiện đất chua nhẹ cây sinh trưởng khỏe va cho phẩm chất cao. Dé phát triển trồng cây có múi, ngoài đất ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long thì còn có thể phát triển trên đất vùng Miền Đông Nam Bộ và Cao Nguyên Trung Bộ.2 Tình hình sản xuất 1.1 Tình hình sản xuất bưởi trên thế giới Trên thế giới sản xuất khoảng 4 - 5 triệu tấn bưởi (2015) cả 2 loại bưởi chùm (Citrus paradisi) và bưởi ta (Citrus grandis) chiếm 5,4 - 5,6 % tong sản lượng cây có múi, trong đó chủ yếu là bưởi chùm (chiếm 2,8 - 3,5 triệu tân) còn bưởi ta chiếm một lượng khá khiêm tốn chi từ 1,2 - 1,5 triệu tan. Tuy nhiên theo FAOSTAT (2023) sản lượng bưởi trên toàn thế giới đã lên tới trên 9,5 triệu tấn. Sản xuất bưởi chùm chủ yếu tập trung ở các nước Châu Mỹ, Châu Âu dùng cho chế biến nước quả.
Bưởi chủ yếu được sản xuất ở các nước thuộc Châu Á, tập trung nhiều ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan, Bangladesh, được sử dụng dé ăn tươi là chủ yêu (Nguyễn Hữu Thọ, 2015).1 Tình hình sản xuất bưởi trên thế giới giai đoạn năm 2017 - 2021 Chỉ tiêu Diện tích (hecta) Năng suất (tạ/hecta) Sản lượng (tấn) 2017 346,298 250,316 8,668,411,28 2018 374,676 241,262 9,039,495,71 2019 355,195 261,835 9,300,250,33 2020 355,906 263,586 9,381,189,83 2021 360,892 264,816 9,556,999,07 (Nguon: FAOSTART, 2023) Tinh đến năm 2021, dién tich trong và thu hoạch bưởi trên thế giới đạt 360,892 ha, năng suất bình quân đạt 264,816 tạ/hecta và sản lượng đạt 9,556,999,07 tấn. Trong vòng 5 năm từ 2017 - 2021, cả diện tích trồng và năng suất thu hoạch bưởi trên thế giới tăng lên khiến tông sản lượng bưởi tăng lên hơn 9,5 triệu tan (FAOSTAT, 2023).2 Tình hình sản xuất bưởi trong nước Bảng 1.2 Tình hình sản xuất bưởi trong nước giai đoạn năm 2017 - 2021 Chỉ tiêu Diện tích (hecta) Nang suất (ta/hecta) Sản lượng (tấn) 2017 46,791 121,466 568,351,54 2018 86,370 76,145 657,660,22 2019 65,868 124,326 818,913,74 2020 72,581 128,408 931,996,73 2021 80,291 128,867 1,034,680,14 (Nguon: FAOSTART, 2023) Từ Bang 1.2 cho thấy diện tích trồng va năng suất biến động lớn qua các năm trong đó năm 2018 có điện tích trồng cao nhất là 86,370 hecta nhưng năng suất lại thấp nhất chỉ đạt 76,145 tạ/hecta, năm 2021 có năng suất cao nhất đạt 128,408 tạ/hecta với diện tích trồng chỉ 80,291 ha, sản lượng tăng dan từ 568,351,54 tan năm 2017 lên 1,034,680,14 tan vào năm 2021.3 Sâu bệnh hại chính trên cây bưởi 1.1 Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella Stainton) Sâu vẽ bùa gây hại bằng cách đẻ gần gân chính của lá, sau khi nở sâu đục lòn trong lá và đường kính cũng như chiều dài của đường đục lớn dần theo sự phát triển của sâu. Dé hoàn thành giai đoạn ấu trùng, sâu có thé đục một đường dài khoảng 140 mm. Điều này cho thấy nếu mật độ sâu cao và nếu sâu tấn công vào giai đoạn lá thật còn non thì lá sẽ bị biến dạng, khô và rụng đi (Nguyễn Thị Thu Cúc và ctv, 2006).2 Rudi vàng đục quả (Bactrocera spp.) Rudi đục quả trưởng thành thường chọc thủng vỏ trái dé đẻ trứng vào trong vùng giữa vỏ và thịt.
Giai đoạn quả gần già đến chín là thời điểm chúng đẻ nhiều. Khi doi xâm nhập vào thịt quả bưởi, thì sẽ có xuất hiện những vết thâm tròn trên bề mặt vỏ quả. Cuối mùa khô, bước sang đầu mùa mưa là thời điểm ruồi bắt đầu phát sinh trên cây và kéo dài suốt mùa mưa cho đến khi kết thúc (Trần Văn Hai, 2007).3 Bệnh loét (Xanthomonas axonopodis pv. Citri) Bệnh loét do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv.
citri gây ra, có triệu chứng trên cành, lá non và quả, triệu chứng ban đầu là những đốm bệnh màu vàng sáng, nhỏ như vết kim châm, sau đó thành những vết bệnh màu nâu nhạt, xung quanh có viền màu vàng sáng, các vết bệnh có thể liên kết lại với nhau thành từng mảng lớn đặc biệt là bệnh nhiễm theo các vết đục của ruồi đục quả. Bệnh loét thể hiện trên cả hai mặt lá, xung quanh vết bệnh có viền vàng sáng và không làm lá biến dạng, nhăn nheo (Trần Văn Hai, 2007).