Chương I TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1.1 Tình hình nghiên cứu cây cao su ở nước ngoài 1. Lịch sử Cây Cao su (Hevea brasiliensis Muell - Arg) Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mưa Amazon. Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè. Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo Thổ ngữ-Mainas nghĩa là “Nước mắt của cây” (cao là gỗ.
Uchouk là chảy ra hay khóc). Do nhu cầu tăng lên và sự phát minh £a công nghéduu héa nam 1839 đã dẫn tới sự bùng nổ trong khu vực này, làm giàu cho các thành phố Manaus (bang Amazonas) và Belém (bang Pará), thuộc Brasil. [Jean Le Bras, 1949] Cố gắng thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây cao su ra ngoài phạm vi Brasil diễn ra vào năm 1873. Sau một vài nỗ lực,-12 hạt giống đã nảy mầm tại Vườn thực vật Hoàng gia Kew: Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ để gieo trồng, nhưng chúng đã bị chết: Có gắng thứ hai sau đó đã được thực hiện, khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm 1875.
Khoảng 4% hạt giống da nay mam va vao nam 1876 khoang 2.000 cay giống đã được gửi trong các thùng Ward tới Ceylon và đã được-gửi tới các vườn thực vật tại Singapore. Sau nhân khi đã thiết lập sự.có mặt ở ngoài nơi bản địa của nó, cây cao su đã được tại các giống rộng khắp tại các thuộc: địa của Anh. Các cây cao su đã có mặt vườn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia năm 1883[1]. Vào năm 1898, một đồn điền trồi O SỈ y được thành lap tai Malaya, va ngay nay phần lớn các khu Vực vị ại Đông Nam Á và một số tại khu vực châu Phi nhiệt đới.
Các cô ging \y cao su tại Nam Mỹ bản địa của nó thì lại không diễn ra tốt đẹp ae 1. Thanh qua nghién cứu về cây Cao su rừng: Trên thê giới đã có những nghiên cứu hiệu quả của cây Geoge N baur 1952,1964,1976, đã nghiên cứu cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng, phục hồi rừng và quản lý rừng nhiệt đới. Tác giả đã tổng hợp các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm đem lại rừng đồng tuổi và không đồng tuổi trong kinh doanh rừng nhiệt đới ở các châu lục khác nhau. Ricardsw(1952), Cantinot(1965), đã đi sau vào biêu diễn hình thái cấu trúc rừng bằng biểu đồ các nhân tố được mô tả phân theo-dạng sống, Tầng phiến, tầng thứ.
Parde(1961), Bottam(1972), Rolet(1979), đã lợi dụng toán học thống kê để nghiên cứu đăc điểm cấu trúc rừng, định lượng hóa quy luật; đồng thời làm cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật. Công trình nghiên cứu của Moltranov.N (1973), Santra Reginal (1989), Giacomin (1962), tac gia Moltranov da khang định: “ở những nơi có độ đốc 25 — 300 đất rừng vẫn có khả năng chuyển nước chảy trên b mặt đất thành nước ngẫm” _ Theo Smith.T (1994) thì việc trồng rừng có thể đem lại ảnh hưởng tích cực khi độ phì đất được cải thiện, ngược lại ảnh hưởng tiêu cực tới mất cân bằng, cạn kiệt nguồn dinh đưỡng trong đất. Nhìn chung trồng rừng cải thiện tính chất vật lý đất,nhưng các biện pháp cơ giới hóa trong trồng rừng làm suy giảm sức sản xuất của đất [1] Trên thế giới các nghiên cứu về hiệu quả của rừng cao su đã có xu hướng, phát triển cây Cao sử mới đó là:trồng Cao su theo hướng nông lâm kết hợp thay thế cho mô hình độc eanh truyền thống (Laxman Joshi, Eric Penot,2006) 1. Tình hình nghiên cứu cây cao su ở trong nước ây Cao su (Hevea brasiliensis Muell- Arg) d oe người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên tại vườn 8 nhưng không thành công.
0 hạt cao su từ Indonesia được nhập vào Việt Nam. 1000 cây được giao cho tram thực vật Ong Yêm (Bến thửở Suối Dầu (cách Cát, Bình Dương), 200 cây giao cho bác sĩ Yersin trồng Nha Trang 20 km). [Jean Le Bras, 1949] 3 Năm 1897 đã đánh dấu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (dầu Giây, Long Khánh, Đồng Nai) năm 1907.
Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ: SIPH;.SPTR, CEXO, Michelin. Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập. Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng 3. Cây cao su được trong thir 6 Tay Nguyén nam 1923-va phát triển mạnh trong giai đoạn (1960 — 1962), trên những vùng đất cao 400'> 600 m, sau đó ngưng vì chiến tranh.
Trong thời kỳ trước năm 1975, để có nguồn Để liệu cho nền công nghiệp miền Bắc, cây cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ). Trong những năm (1958 — 1963) bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích đã lên đến khoảng 6. Đến 1976, Việt Nam còn khoảng 76:000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3. Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ.
Từ 1977, Tây Nguyên bắt dau lai.chuong trình trồng mới cao su, thoạt tiên do các nông trường quân đội, sau-1985 đo các nông trường quốc doanh, từ 1992 đến nay tư nhân đã tham giã trồng cao su. Ở miền Trung sau năm 1984, cây cao su được phát triển ở-Quảng trị, Quảng Bình trong các công ty quốc ⁄ S\ “; ên tích cao su cả nước đạt 394.900 ha, cao su tiểu %4. Năm 2004, diện tích cao su cả nước là 454.000 ha, `3 trong đó cao điền chiếm 37%. Năm 2005, diện tích cao su cả nước là x 464.
Năm 2007 diện tích Cao Su ở Đông Nam Bộ (339.000 ha), Tây Nguyên (113.000 ha), Trung tâm phía Bắc (41.500 ha) và Duyên Hải miền Trung (6. Biểu thống kê diện tích và sản lượng Cao su của Việt Nam qua các năm ; Nam trong Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn) 1990 221,7 (As 57,9 1991 220,6 S (64,6 1992 2124 Á 67,0 1993 2425 TW %s 1994 258.4 ` 128,8 1995 2782 KN) 124,7 1996 254,2 142,5 1997 347,5 ` 186,5 1998 3820 ^s 193,5 1999 — 3949 — 248,7 2000 4120 290,8 2001 : 415,8 310,6 2002 —328,8 298,2 2003 240,8 363,5 2004 | 454,1 419,0 2005 7 482,7 481,6 522,2 555,4 007 549,6 601,7 (Nguôn: tông cục thông kê Việt Nam: 2008) tp huy: ân đây, diện tích của Cao su Việt Nam ngày một tăng, đồng thời kéotheo sự gia tăng về sản lượng mủ. Trong những năm tiếp theo diện tích còn tăng hơn nữa vì những dự án đầu tư trồng cây Cao su ở Tây Bắc, Lào, Cam Pu Chia.đã được chính phủ ký quyết định phê duyệt. Cùng với sự phát triển cây Cao su ở nước ta ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về cây Cao su, không chỉ đơn thuần ở lĩnh vực giống mà còn nhiều lĩnh vực khác nhau như phân hạng về đất trồng Cao su hay về Cac kỹ thuật mới trong chăm sóc cũng như khai thác cây Cao su.
Sau hơn 120 năm được nhập vào Việt Nam, hiện Tuy nước ta đang đứng thứ 6 thế giới về sản lượng Cao su thiên nhiên và xếp thứ 4 về xuất khẩu Cao su thiên nhiên. Trong các vùng trồng Cao su tại Việt Nam thì vùng Đông Nam Bộ chiếm 67.4% về diện tích và đóng góp 78.5% về sản lượng, đồng thời cũng là vùng đạt diện tích cao nhất cả nhất cả nước. Còn khu Vực Tây Nguyên và Trung Bộ do điều kiện khí hậu ít thuận lợi nên sản lượng bình quân chỉ đạt 1.360 tắn/ha/năm ở Tây Nguyên là 1.172 tắn/ha/năm ở miền Trung. Thành quả nghiên cứu về cây Cao su Ở Việt Nam nghiên cứu về cao su đã khá fhiéu nhưng thường tập trung vào các lĩnh vực như thực trạng thoái hóa đất; về.
hiệu quả kinh tế của mô hình trồng cao su phủ xanh đất trống sau hoạt động nương rẫy, tác động môi trường của rừng cao su tại Việt Nam, đánh giá tình trạng xói mòn tại các lập địa trồng rừng cao su khá nhiều, tuy nhiên đánh giá về hiệu quả trồng cao su trên đất dốc còn hạn chế và khá mới mẻ. Nghiên cứu của Nguyễn Khoa Chỉ (1977) với kết quả: cao su là một trong những loài cây bảo vệ môi trường đất tốt có khả năng chống xói mòn và không làm hủy hoại đất. Nghiên cứu của Trương Đình Trọng (2005) về thực trạng thoái hóa đất bazan ở of Trị và các biện pháp bảo vệ môi trường đất ở một số vùng sau khi phá a ồng các loài cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, chè. "$6 biểu hiện thoái hóa, tạo tầng đất chặt dưới tầng canh tác.
eS Vuong Van Quynh (2010) đã nghiên cứu về: “ác động môi trường của rừng cao su tại Việt Nam”, tác giả có nhận định răng: rừng cao su và các loại 6 rừng trồng khác không có sự khác biệt về độ tàn che, độ chặt; độ xói mòn trung bình và độ ẩm trung bình ở rừng cao su cao hơn ở rừng đối chứng. Nghiên cứu: “Đánh giá tình trạng xói mòn tại các lập địa trồng rừng cao su trên đất dốc Hà Tĩnh, làm cơ sở cho việc xây dựng cáe-biện pháp kiểm soát xói mòn cho các lâm phân trằng rừng cao su trên địa ban tinh Ha Tinh” của các tác giả: Vi Văn Viện, Đặng Bá Thức, Phạm Văn Điền (2010). Nhận xét chung: Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về rừng cao su nói chung và hiệu quả của cây cao su nói riêng. Tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu được thực hiện ở đối tượng rừng trồng tại Nam Bộ và Tây Nguyên, nơi có độ dốc bằng phẳng, đất giàu đỉnh dưỡng, khí hậu thuận lợi.
Nhưng còn ít nghiên cứu về hiệu quả rừng trồng cao sh trén đất:dốc, đặc biệt những nơi dễ xây ra tai biến về môi trường (độ dốc cao, đất mỏng, nghèo dinh dưỡng, mưa lại tập trung theo mùa) như tại các tỉnh Trung Du và Miễn Núi phiá Bắc - các tỉnh bắt đầu mở rộng diện tích trồng cao, su. Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu đánh giá hiệu quả của. rừng trồng nói chung và rừng trồng cao su nói riêng trước đây thường mang tính định tính cao, đặc biệt là các đánh giá về hiệu quả môi trường và xã hội. Chương II MỤC TIỂU, NỘI DUNG, ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu tỗng quát Góp phần bổ sung cơ sở lý luận đến thực tiễn thơ việc phát triển bền vững rừng trồng cao su trên đất dốc.