Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về rau cải xanh Cải be xanh có tên khoa học Brassica juncea L., thuộc họ thập tự Brassicaceae, có nguồn gốc phát sinh từ Tây Bắc Ấn Độ và được trồng trong nhiều thế kỉ ở nhiều vùng của Châu Á và Châu Âu, thích hợp ở vùng khí hậu cận nhiệt đới và ôn đới (Duke, 1983). Cải be xanh được trồng khá phố biến ở nước ta nhờ vào kha năng thích ứng rộng, hiệu quả kinh tế cao, trồng được quanh năm (trừ những tháng nóng và mưa nhiều).1 Đặc điểm thực vật học Hệ rễ Cải bẹ xanh thuộc loại cây có rễ cọc, ít phân nhánh (Võ Văn Chí, 1988). Rễ chính xuất hiện vào ngày thứ hai sau nảy mam, rễ con xuất hiện vào ngày thứ 3 sau nảy mam, mọc ra từ các vị trí khác nhau trên rễ chính. Rễ nhánh mọc ra từ các rễ con tạo thành hệ rễ dày đặc (Lê Thị Khánh, 2008).
Lá Lá cải bẹ xanh mọc đơn và không có lá kèm. Những lá dưới thường tập trung, bẹ lá to. Bộ lá khá phát triển và có kích thước lớn nhưng rất mỏng nên chịu hạn kém và dé bị sâu bệnh tan công (Lê Thị Khánh, 2008). Hoa, quả, hạt Theo Lê Thị Khánh (2008), cây cải be xanh có hoa nhỏ, mau vàng, đều, mẫu 2.
Đài hoa và tràng hoa đều 4, xếp xen kẽ nhau. Hoa có 6 nhị trong đó 2 nhị ngoài có chỉ nhị ngắn hơn 4 cái trong. Bộ nhị gồm 2 noãn đính bầu trên, một ô về sau có một vách ngăn giả chia bầu thành 2 ô, mỗi ô có 2 hoặc nhiều noãn. Quả thuộc loại quả giác (quả khi khô chín nứt ra theo 4 đường dọc, mở thành 2 mảnh vo, dé lại vách ngăn ở giữa mang hạt, chin tự tách vo, hat roi rụng).
Hạt có phôi lớn va cong, nghèo nội nhũ.2 Yêu cầu điều kiện sinh thái Nhiệt độ Theo Trần Thị Ba (2012), nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của cải bẹ xanh, bao gồm quá trình nảy mam, ra hoa, thu phan, tao hat, va anh huong dén su chín. Cai be xanh ở Việt Nam là giống cây chịu nhiệt, cây sinh trưởng tốt ở nhiệt độ từ 18°C - 22°C. Theo Lê Thi Khánh (2008), cải be xanh sinh trưởng và phát trién tốt là từ 15°C - 2220, Am độ Âm độ không khí và âm độ trong đất có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sinh trưởng và phát triển của cây cải. Điều kiện khô và nóng rất thích hợp với việc sản xuất hạt cải.
Độ âm cao làm tăng tỉ lệ hoa cái (Tạ Thu Cúc, 2006). Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2011), độ âm đất thích hợp là 70% đến 80% kết hợp với độ âm không khí cao sẽ giúp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt. Cải be xanh là cây không ưa nhiều nước, nếu đất quá âm kéo dai 3 - 5 ngày sẽ làm cho rễ cây bị nhiễm độc và phải sống trong điều kiện yếm khí, không tốt cho quá trình phát triển của rễ. Ánh sáng Theo Nguyễn Ngọc Trì (2007), ánh sáng là yếu tô quan trọng và cần thiết trong sản xuất rau, đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp của cây, ảnh hưởng đến 90 - 95% năng suất cây trồng do quang hợp mà có.
Ánh sáng đầy đủ sẽ tăng độ dày của mô tăng diệp lục trong lá thúc day quá trình quang hợp của cây. Bên cạnh đó, ánh sáng cũng có ảnh hưởng rất mạnh đến việc hút khoáng, NH¡” trong cây. Ánh sáng là một phần quan trọng của quá trình quang hợp. Thời gian chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cải be xanh (Trần Thị Ba, 2012).
Theo Lê Thị Khánh (2008), cây cải có nguồn gốc ôn đới nên yêu cầu ánh sáng thích hợp với thời gian chiếu sáng ngày dài, cường độ ánh sáng yếu. 4 Nước Lượng nước trong cây rất cao chiếm từ 75 - 95% do đó cải cần nhiều nước dé sinh trưởng phát triển. Tuy nhiên, nếu mưa kéo dài hay đất úng nước cũng ảnh hưởng xâu đến sinh trưởng, phát triển của cây cải (Lê Thị Khánh, 2008). Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2011) cũng đã kết luận lượng nước trong cây chiếm 75% - 95%, vì vậy có thể nói nước là nguyên nhân hạn chế lớn nhất đến năng suất, chất lượng cây rau hơn bat kỳ yếu tố nào khác.
Các giống cải có hệ rễ can, lá trên cây không nhiều và lớn do vậy cây cần được giữ 4m thường xuyên trong thời gian sinh trưởng. Dat Theo Vũ Quang Sáng va cs (2007), cây cải không kén đất, nó có khả năng sinh trưởng và phát triển, cho năng suất cao ở các loại đất khác nhau, từ đất cát pha đến đất thịt nặng. Tuy nhiên, cây thích hợp nhất với đất giàu dinh dưỡng, khả năng giữ 4m tốt. Dé đạt năng suất cao, cải cần được cung cấp nhiều đạm, lân, kali, trong đó đạm là yếu tố quan trọng nhất.
Vai trò quan trọng của đất trong sinh trưởng của cây là nơi cung cấp dinh dưỡng, nước và làm giá thê cho cây đứng vững. Đất thích hợp nhất cho cải bẹ xanh là các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ với những tính chất nông hóa cơ bản như đất cát pha, thịt nhẹ, độ pH khoảng 5,5 — 6,5. Cải be xanh phát triển tốt trên đất nhiều dinh dưỡng và thoát nước tốt (Trần Thị Ba, 2012).3 Giá trị của cải bẹ xanh Giá trị dinh dưỡng Hiện nay trên thế giới rau là một loại thực phẩm không thể thiếu đối với người tiêu dùng. Theo FAO (2021), lượng rau bình quân của người Việt Nam ngày càng được cải thiện và có khuynh hướng tăng dần, năm 2020 mức tiêu thụ rau đạt tới 184,9 kg/người/năm.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2002), ước tính rằng việc tiêu thụ ít rau quả gây ra 19% các bệnh ung thư đường tiêu hóa, 31% các bệnh tim thiếu máu cục bộ và 11% nguy cơ đột quy trên toàn cầu (Steven và cs, 2011). Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo nên ăn rau quả ít nhất 400 g/ngày, có tác dụng phòng chống các bệnh mãn tính như các bệnh tim mạch, ung thư dạ day va ung thư đại trực trang. Thành phần dinh dưỡng chính trong 100 g cải bẹ xanh được thê hiện qua Bảng 1:1.1 Thành phần dinh dưỡng trong 100 g phan ăn được của cải be xanh Thanh phan Ham luong Thanh phan Ham luong Nước 93,8 g P 14mg Năng lượng 16 KCal K 221mg Protein 17 g Zn 0,9 mg Lipid 0,2 g Vitamin C 51 mg Glucid 1,9 g Vitamin B1 0,07 mg Cellulose 1,8 g Vitamin B2 0,1 mg Tro 0,6 g Vitamin B5 0,21 mg Đường tổng số 1,62 Vitamin B6 0,18 mg Ca 89 mg Vitamin PP 0,8 mg Fe 1,9 mg Cholesterol 0 mg Mg 23 mg (Nguồn: Bộ y tế viện dinh dưỡng, 2007) Theo Bộ y tế viện dinh dưỡng (2007), rau cải be xanh có năng lượng Calo/100 g đạt 16 Kcal, hàm lượng protein thấp và không chứa các chất béo. Hàm lượng glucid đạt 1,9 g, hàm lượng cenllulose đạt 1,8 g và hàm lượng đường tổng số dat 1,6 g.
Cải be xanh cũng chứa đầy đủ các vitamin C, B1, B2, PP. Cải bẹ xanh chứa phong phú, đa dạng các dưỡng chất quan trọng cho cơ thể người, nhờ đó cải bẹ xanh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. Giá trị kinh tế Theo Phạm Văn Chương và cs (2008), trồng rau ở Việt Nam là nguồn thu nhập quan trọng của nông thôn, ước tính chiếm khoảng 9% trong tổng số thu nhập từ nông nghiệp (bao gồm cả trồng lúa). Đầu tư cho sản xuất rau nói chung cao hơn so với trồng lúa và các cây lương thực khác, tuy vay, lợi nhuận trông rau cao hơn so với trông lúa hoặc bap gấp 3 — 5 lần (Châu Hữu Hiền Philipe và cs, 2001).
Cây cai be xanh là loại rau dé trồng lại có thời gian sinh trưởng ngắn nhưng cho năng suất cao, có thé gieo trồng nhiều vụ trong năm, tận dụng đất dai, thời tiết — khí hậu, công lao động nhàn, quay vòng đồng vốn nhanh, vì vậy có thé mang lại lợi nhuận cao hơn so với một số cây trồng khác cũng trồng trên diện tích đất ấy. Bên cạnh đó, rau còn là cây dé trồng xen, trồng gối vì vậy trồng rau tạo điều kiện tan dụng dat dai, nâng cao hệ số sử dụng đất (Nguyễn Thị Kiều, 2018). Giá trị dược liệu Các loại cải có tác dụng lợi tiểu. Trong y học Đông Phương, người ta cho biết hạt cải xanh có vị cay đắng, tinh ấm, có tác dụng an than, tiêu hoá dom thấp, tiêu thũng, giảm đau, chữa ho hen, làm tan khí trệ, chữa kết hạch, đơn độc sưng tay (V6 Van Chi, 1998).
Gia trị xã hội Theo Ta Thu Cúc và cs (2007), sự phát triển mạnh mẽ và 6n định của ngành sản xuất rau sẽ đóng góp vào việc tăng thu nhập cho người lao động, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân và đồng thời đáp ứng yêu cầu của quá trình xây dựng đất nước. Bên cạnh đó, khi những khu chuyên canh rau được mở rộng sẽ có điều kiện để sắp xếp lao động một cách hợp lí, giải quyết việc làm cho nông dân. Ngoài ra, ngành sản xuất rau còn hỗ trợ thúc đây các ngành nghề trong nông nghiệp phát triển như cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm. Từ đó, việc phát triển ngành sản xuất rau không chỉ tạo ra lợi ích kinh tế cho các nhà nông ma còn tác động tích cực lên sự phát triển toàn diện của ngành nông nghiệp và kinh tế đất nước.4 Côn trùng, sâu, bệnh hại chính trên cải bẹ xanh Cải bẹ xanh là cây ngắn ngày, thân lá mỏng nên rất đễ bị xâm nhập bởi các loại sâu bệnh.
Vì vậy, côn trùng, sâu bệnh là một trong những nguyên nhân chủ yêu làm giảm phẩm chất và năng suất cải be xanh (Nguyễn Thị Kiều, 2018). Theo Nguyễn Thị Kiều (2018), cải bẹ xanh có các loại sâu bệnh hại chính sau đây: Rudi đục lá (Liriomyza brassicae): là loại sâu đa thực, gây hại trên 41 loài cây thuộc 15 họ thực vật, trong đó số cây ký chủ được sử dụng làm rau bị ruồi đục lá gây hại chiếm 73,17%. Rudi đục lá phát sinh gây hại trên cải be xanh ngay từ khi cây mới có lá mầm đến khi cây tàn. Chúng ăn mô lá làm giảm quang hợp, làm cho cây vàng, can cỗi, lá rụng sớm dẫn đến giảm năng suất, chất lượng rau.
Ngoài ra, vết thương của lá do ấu trùng đục sẽ tạo điều kiện cho nam và vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây rụng lá, chết cây. Sâu tơ (Plutella xylosfella): là loại dich hại nguy hiểm bậc nhất trên cây họ cải.