Đặt vấn đề Cam có tên khoa học là Citrus sinensis (L.) Osbeck, thuộc họ Cam chanh. Cam là một trong những loại quả có múi phổ biến nhất trên thế giới thuộc loài thực vật thuộc chi cam chanh, thân nhỏ. Quả cam có màu xanh, khi chín chuyển sang màu da cam hoặc vàng. Quả cam có vị ngọt và hơi chua nhẹ, loại trái cây này được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như chế biến thực phẩm, làm thuốc trong Đông y hoặc làm đẹp.
Tuy nhiên trong điều kiện nóng ẩm của nước ta, các vùng trồng cam rất dễ mắc một số bệnh lây từ các loại côn trùng, sâu bệnh hại hay các loài nấm, vi khuẩn. Một số loài sâu bệnh hại thường xuyên được nhắc đến trong việc gây bệnh cho cây cam có thể kể đến như: Sâu vẽ bùa, sâu đục cành, rầy chổng, rệp hại, bọ trưởng thành, ruồi đục quả, nhện đỏ. Đối với mầm bệnh là vi khuẩn, một số loài vi khuẩn hại cam gây thiệt hại cho người trồng cam có thể kể đến như Xanthomonas campestris, Candidatus Liberibacter spp. Ngoài ra các bệnh trên cây cam với nguồn bệnh là nấm như nấm Elsinoe fawcetti gây bệnh sẹo.
Colletotrichum gloeosprioides gây bệnh thán thư, nấm Furarium solani gây bệnh vàng lá thối rễ, gây thiệt hại nặng nề đến năng suất và chất lượng cam. Các nguồn lây bệnh này thường gây các bệnh ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của quả cam, làm giảm giá trị thương phẩm của quả, gây thiệt hại về kinh tế. Bệnh thối nhũn hay bệnh chảy gôm được cho là một trong số những nguyên nhân gây tổn hại đến năng suất và chất lượng của cây cam. Bệnh thối nhũn trên quả cam do nấm Phytophthora nicotianae gây ra.
Trong nhóm cây có múi bệnh thường gây hại nặng cho trái quýt đường và cam mật. Trên trái cây, bệnh thường gây hại trên trái già và những trái nằm khuất trong tán cây thiếu ánh nắng mặt trời. Nếu ẩm độ không khí cao, trời âm u ít nắng trên vết bệnh sẽ xuất hiện một lớp sợi tơ nấm màu trắng. Nếu bệnh nặng, chỗ bị bệnh chiếm khoảng 1/3 đến 1/2 diện tích vỏ trái, trái sẽ bị rụng (Báo bạn của nhà nông, 1 2020).
Một số biện pháp phòng trừ có thể kể đến đối với bệnh là tỉa cành tạo tán hàng năm sau thu hoạch, khử trùng dụng cụ bằng nước Javel hoặc cồn 900 khi tỉa cành để tránh lây bệnh qua cây khác, đối với vườn thoát nước tốt trong mùa mưa hoặc khi thấy xuất hiện bệnh thối trái, có thể phối một số thuốc sau đây: Mexyl-MZ 72WP + Anlisa 102WP, Alpine 80WG + Tiêu khuẩn. Ngoài ra gần đây vật liệu nano như nano đồng và nano bạc, nano bạc đồng được sử dụng như một chất kháng khuẩn để tiêu diệt mầm bệnh và khử khuẩn hiệu quả. Xuất phát từ thực trạng trên, nano là loại chất kháng khuẩn hiệu quả cao, thân thiện với môi trường và có tác dụng kháng tốt đối với nấm Phytophthora nicotianae. Các nghiên cứu gần đây cho thấy nano bạc có hiệu quả diệt khuẩn cao, lại an toàn đối với con người.
Chính vì thế tôi thực hiện đề tài:“Đánh giá khả năng ức chế nấm Phytophthora nicotianae gây bệnh thối nhũn trên quả cam của chế phẩm nano” 1. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Xác định được nồng độ nano và thời gian xử lý thích hợp cho việc ức chế nấm Phytophthora nicotianae gây bệnh thối nhũn trên quả cam trong điều kiện in vitro. Xác định được nồng độ nano thích hợp để sử dụng trong bảo quản cam sau khi thu hoạch.
Yêu cầu Đánh giá hiệu lực ức chế bệnh thối nhũn do nấm Phytophthora nicotianae của nano trong điều kiện in vitro. Đánh giá khả năng phòng trị bệnh thối nhũn trên quả cam do nấm Phytophthora nicotianae của chế phẩm nano bằng phương pháp lây nhiễm trực tiếp. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu về cây cam 2.
Nguồn gốc, phân bố, lịch sử phát hiện và phân loại cam., 1973), (Wakana A Kira, 1998), (Walter Reuther at el, 1978) cho thấy các loại cây ăn quả, cùng với cây nho, cây cam quýt có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất. Phần lớn kết quả nghiên cứu đều thống nhất cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Himalaya, Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippin, Malaysia, miền Nam Indonecia hoặc kéo đến lục địa châu Úc. Cây cam được biết đến rất lâu khoảng 2200 năm trước công nguyên tại Trung Quốc nhưng một số người lại cho rằng cam có nguồn gốc từ Himlayas (Ấn Độ). Cam được trồng rất phổ biến tại Ấn Độ, sau đó lan rộng về phía Đông đến cả vùng Đông Nam Á.
Vào khoảng thế kỷ III trước Công nguyên, cam được đưa vào Châu Âu và nó lan ra đến cả vùng Địa Trung Hải. Sau đó cây cam được Columbos mang đến Châu Mỹ. Những năm sau đó những người làm vườn tại Châu Âu và Châu Mỹ mang cam đến Châu Úc và Châu Phi, ngày nay cây cam được trồng phổ biến ở rất nhiều nơi trên thế giới (Ngô Lâm Tuấn Anh, 2013). Cam đã trở thành loại trái cây được trồng phổ biến nhất trên thế giới.
Nó là một loại cây trồng quan trọng ở Biển Đông, các nước Nam Phi, Úc, khắp khu vực Địa Trung Hải, và các khu vực cận nhiệt đới của Nam Mỹ và Caribe. Hoa Kỳ dẫn đầu về sản lượng thế giới, chỉ tính riêng Florida, đạt sản lượng hàng năm hơn 200 triệu hộp xuất khẩu hàng năm. Các nhà sản xuất lớn khác là Brazil, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Mexico, Ý, Ấn Độ, Argentina và Ai Cập. Ở Brazil, cam được trồng khắp nơi ở đồng bằng ven biển và cao nguyên nhưng nhiều nhất là ở các bang Sao Paulo và Rio de Janeiro, nơi văn hóa cam tăng mạnh trong những năm ngay sau Thế chiến thứ hai và vẫn đang tiếp tục phát triển.
Trong các nghiên cứu nhằm mục đích nghiên cứu thị phần cam trên thị trường nước ngoài và các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến nhu cầu bên ngoài của cam cho 3 thấy cam là một trong những loại cây xuất khẩu quan trọng trên thế giới. Theo thống kê của FAO, năm 2000 tổng sản lượng cam quýt trên thế giới là 85 triệu tấn và phần tiêu thụ khoảng 79,3 triệu tấn, tăng trưởng hàng năm 2,85%. Tiêu thụ sẽ tăng lên ở các nước đang phát triển và giảm ở các nước phát triển. Dự báo trong những năm của thập kỷ 2000 mức tiêu thụ quả có múi của thị trường thế giới tăng khoảng 20 triệu tấn.
Các nước xuất khẩu cam quýt chủ yếu đó là: Tây Ban Nha, Israel, Maroc, Italia. Các giống cam quýt trên thị trường được ưa chuộng là: Washington, Navel, Valenxia Late của Maroc, Samouti của Isarel, Maltaises của Tunisia, và các giống quýt Địa trung hải như: Clemention, quýt Đỏ Danxy và Unshiu được rất nhiều người ưa chuộng (Nguyễn Thị Ngân, 2008). Một số bệnh về cam phổ biến Có nhiều cách để phân loại bệnh về cam hay cây có múi và một cách phân loại thường được sử dụng là phân loại theo nguồn lây nhiễm bệnh với 3 tác nhân chính là bệnh do sâu hại, bệnh do vi khuẩn và bệnh do nấm. Bệnh do vi khuẩn Bệnh loét vi khuẩn trên cây cam, bệnh do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv.citri (tên cũ là Xanthomonas campestris pv.citri) gây hại.
Vi khuẩn có thể xâm nhiễm qua vết thương hay khí khổng ở các bộ phận của cây. Lá, cành non, trái thường bị nhiễm qua khí khổng khi có sương hay mưa làm ướt vết bệnh, vi khuẩn trong vết bệnh sẽ ứa ra và từ đó gió, nước mưa, côn trùng (sâu vẽ bùa) sẽ làm lây lan bệnh. Trong các lá bệnh rơi rụng, vi khuẩn có thể tồn tại đến 6 tháng và là nguồn bệnh lây lan quan trọng. Các vườn trồng dày, thiếu chăm sóc hoặc các vườn ươm cây con; bón nhiều phân đạm là điều kiện tốt cho bệnh phát triển.
Bệnh vàng lá greening hay còn gọi là bệnh vàng lá gân xanh là bệnh phổ biến của các loài thực vật thuộc chi Cam chanh do vi khuẩn Gram-âm chưa rõ đặc tính Candidatus Liberibacter spp. tấn công mạch dẫn của cây, lây lan qua mắt ghép. Biểu hiện đầu tiên là trái có quầng đỏ từ dưới đít trái lên trên đến 4 khoảng nửa trái thì rụng, khi bổ ra sẽ thấy tâm lệch qua một bên và hạt bị thối. Bệnh vàng lá do cây thiếu kẽm thì lá và gân chuyển màu vàng, biểu hiện đồng loạt trên tất cả các cây hay ở một hướng hoặc một thửa nào đó trong vườn, triệu chứng giống nhau, không có nhánh bị nặng hay nhẹ.
Mức độ diễn biến rất chậm, có thể kéo dài trong nhiều năm sau cây mới chết tuỳ theo điều kiện chăm sóc (Trần Thị Hoài Thương, 2016). Bệnh do sâu hại (Lê Hòa, 2019) Sâu vẽ bùa: Sâu đục dưới lớp biểu bì lá thành những đường ngoằn ngoèo. Sự phá hại của sâu làm cho lá co cúm, quăn queo, hạn chế quang hợp. Ngoài ra, các vết thương do sâu to nên trên lá, chồi tạo điều kiện cho bệnh loét phát triển.
Sâu vẽ bùa gây hại kéo theo theo vi khuẩn Xanhthomonas citri xâm nhiễm qua đường sâu đục, làm lá nhanh rụng. Rầy chổng cánh: Rầy non và rầy trưởng thành chủ yếu sống ở cánh lá non. Rầy chích hút dịch cây, làm héo và rụng lá non. Nhiệt độ 18 – 25oC (mùa xuân và mùa thu) rầy phát triển mạnh.
Ấu và thành trùng chích hút dinh dưỡng lá, đọt non làm phiến lá nhỏ và xoăn, đọt non lụi dần, sần sùi. Chất thải của rầy thu hút nấm bồ hóng ảnh hưởng đến quang hợp. Ngoài tác hại trực tiếp, rầy chổng cánh còn là môi giới truyền bệnh vàng lá greening, bệnh nguy hiểm nhất hiện nay trên cam. Rệp hại: Từ đầu mùa xuân, khi lộc non của cam bắt đầu phát triển thì rệp cái có cánh từ nơi cư trú bay đến đẻ ra rệp non.
Những rệp non phát triển trong 7 -10 ngày thì đa số trở thành rệp cái dạng không cánh. Dạng này có sức sinh sản rất mạnh, mỗi con 1 ngày đêm có thể đẻ được 20 -25 rệp non do đó mà tập đoàn rệp phát triển rất nhanh. Chúng ít di động, chỉ tập trung ở ngọn non, chích hút dịch cây, làm lá và chồi non cong queo. Rệp lan sang cây khác nhờ kiến.
Ngoài gây hại trực tiếp, rệp cam còn là môi giới truyền bệnh Tristcza virus, chất bài tiết của rệp cũng là môi trường thích hợp cho nấm đen phát triển, gây hại cho cây. 5 Sâu đục cành: Bọ trưởng thành xuất hiện từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 7 phần nhiều vào buổi sáng. Con cái đẻ trứng vào nách lá, trên trứng có lớp sáp bảo vệ, sâu non nở ra gặm vỏ cành để sống.