CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nấm Trichoderma spp. Vị trí phân loại Trichoderma được xem là nhóm vi nấm gây nhiều khó khăn trong phân loại vì các đặc điểm cần thiết cho việc phân loại chưa được phân tích đầy đủ. Trước đây, người ta cho rằng Trichoderma thuộc lớp Deuteromycetes, bộ Moniliales, họ Moniliaceae [64].
Hiện nay, dựa vào việc phân tích trình tự một số gen đặc trưng như ITS, tef, rpb, ech24, Druzhinina và cộng sự (2006) đã phân loại Trichoderma như sau [30]: Giới Fungi Ngành Ascomycota Lớp Euascomycetes Bộ Hypocreales Họ Hypocreaceae Chi Trichoderma 1. Đặc điểm sinh học Trichoderma spp. được tìm thấy nhiều trong MT tự nhiên, đặc biệt trong MT đất. Chúng phát triển trên nhiều loại cơ chất khác nhau (sáp, gỗ, các loài nấm khác).
là nhóm vi nấm phổ biến ở đất (pH = 3 – 8) như đất nông nghiệp, đồng cỏ, rừng, đầm muối và đất sa mạc…[33], [63]. Phần lớn Trichoderma spp. pseudokoningii có thể chịu độ ẩm cao hơn so với những loài khác. Tuy nhiên, các loài Trichoderma spp.
thường không chịu được độ ẩm thấp vì thế số lượng Trichoderma giảm đáng kể trong nơi có độ ẩm thấp [60]. Đa số các chủng Trichoderma phát triển trong đất có độ pH từ 2.5; pH tối thích là từ 4. Nhiệt độ tối ưu thường là 25 – 30oC. Một vài dòng phát triển tốt ở 35oC, một số ít phát triển ở 40oC [64].
KL nấm có màu trắng hoặc từ trắng đến lục, vàng xanh, lục xỉn đến lục đậm. Các chủng Trichoderma có tốc độ phát triển nhanh, KL có thể đạt đường kính từ 4 – 9 cm sau 4 ngày nuôi cấy ở 25oC. 10 Hình thái KL và BT của Trichoderma khác nhau khi ở những điều kiện nhiệt độ khác nhau. Ở 35oC chúng tạo ra những KL rắn, dị thường với sự hình thành BT nhỏ và mép KL bất thường, ở 37oC không tạo ra BT sau 7 ngày nuôi cấy.
Hầu hết các loài Trichoderma không có giai đoạn sinh sản hữu tính, chúng sinh sản vô tính bằng BT đính từ khuẩn ty. Khuẩn ty của Trichoderma không màu, cuống sinh BT phân nhánh nhiều. Ở cuối nhánh phát triển thành một khối tròn mang các BT trần không có vách ngăn, thường không màu. BT có dạng hình cầu, hình trứng hoặc hình trụ ngắn.
Sợi nấm có đường kính từ 0,5 – 10 µm, được bao bọc bởi thành tế bào. Thành tế bào không chứa cellulose như thực vật mà chứa chitin và một số thành phần khác như polysaccharide, lipit, protein, hexozamin, chất màu. Màng tế bào chất dày khoảng 7 µm chứa lipit (40%) và protein (38%) [62]. có thể sinh tổng hợp được nhiều loại enzyme ngoại bào như chitinase, glucanase, xylanase, pectinase, cellulase…để phân hủy các nguồn xác bã hữu cơ thực vật và vách tế bào nấm bệnh [13].
Cấu trúc của Trichoderma spp. Bề mặt tế bào của hầu hết các loại nấm bao gồm 3 lớp: màng nhày, vách tế bào, màng tế bào. Cấu trúc vách tế bào của Trichoderma thuộc dạng chitin-β-glucan. Tuy nhiên, chitin hiện diện ở hệ sợi nấm lại không có ở BT của T.
Vách tế bào của một vài chủng Trichoderma đã được phát hiện chứa galactose và N-acetyl-β -D-galactosimin lectin [43], [66]. có nhân điển hình, được bao quanh bởi một màng đôi. BT đính thường chứa nhiều hơn 1 nhân. có số lượng nhân khác nhau, một số đơn nhân, một số đa nhân.
reesei hình thành nhân nhỏ sau khi xử lý colchicin do sự phân chia nhân bất bình thường. Hàm lượng DNA trung bình của những nhân nhỏ này bằng khoảng 30% của nhân bình thường, gọi là đa bội lệch. Những nhân này có thể hữu ích cho việc vận chuyển những lượng DNA nhỏ vào trong thể nguyên sinh [43], [66]. Nghiên cứu gần đây cho thấy trong tế bào của chúng có tất cả các bào quan của một eukaryote.
Cấu trúc của 1 số bào quan (như thể golgi) thì khác biệt so với eukaryote nhưng vẫn chưa biết rõ những đặc tính về sinh hóa có khác nhau hay không. Một vài loài Trichoderma spp. chứa một lượng lưới nội chất khá lớn và nhiều nhất là ở chủng T. Các cơ chế đối kháng của Trichoderma với nấm gây bệnh cây trồng Nấm đối kháng là những nhóm VSV phổ biến của hệ vi sinh trong đất.
Chúng thường tiết ra các men, kháng sinh gây độc cho nấm gây bệnh hoặc cạnh tranh điều kiện sống với nấm gây bệnh. Nấm đối kháng có thể kìm hãm sự sinh trưởng, phát triển của nấm gây bệnh trên cây và giúp cây hồi phục, sinh trưởng phát triển. Trichoderma cũng là một trong những giống nấm có khả năng ức chế một số nấm gây bệnh như: Sclerotium rolfsii, Phytophthora, Fusarium, Pythium, Rhizoctonia… gây bệnh trên nhiều loài cây trồng. Sự đối kháng của nấm Trichoderma thông qua nhiều cơ chế Cơ chế kí sinh Vào năm 1932, Weinding đã mô tả hiện tượng nấm Trichoderma ký sinh nấm gây bệnh và đặt tên cho hiện tượng đó là “Giao thoa sợi nấm” [68].
Hiện tượng giao thoa gồm ba giai đoạn như sau: Giai đoạn 1: Sợi nấm Trichoderma hướng về sợi nấm gây bệnh (nấm kí chủ). Hiện tượng này là đặc tính hướng hóa của Trichoderma spp., chúng sẽ hướng về nơi có chất hóa học do nấm chủ tiết ra. Khi tơ nấm Trichoderma đến gần tơ nấm kí chủ, chúng có xu hướng tiếp xúc và cuộn xung quanh sợi nấm chủ, sau đó hình thành cấu trúc móc hoặc ép sát sợi nấm kí chủ và phát triển song song với nấm kí chủ [68]. Giai đoạn 2: Sau khi vây quanh, sợi nấm Trichoderma sẽ thủy phân vách nấm kí chủ bằng cách tiết ra các enzyme ngoại bào như: chitinase, glucanase, cellulase [68].
Giai đoạn 3: Cuối cùng sợi nấm Trichoderma đâm xuyên làm thủng màng sinh chất của tế bào nấm kí chủ, làm cho chất nguyên sinh trong nấm kí chủ bị phân hủy và dẫn đến nấm bệnh bị chết [68]. Cơ chế cạnh tranh Một cơ chế khá phổ biến đã được nghiên cứu nhiều trong những năm gần đây là sự cạnh tranh của nấm đối kháng với nấm bệnh tại vùng rễ. có thể biểu hiện tính đối kháng thông qua việc cạnh tranh với nguồn gây bệnh cây về dinh dưỡng, nơi cư trú. Nấm Trichoderma thường định cư trước so với các nguồn gây bệnh cây.
Do đó, chúng chiếm chỗ định cư cũng như dinh dưỡng của nguồn gây bệnh [27]. Cơ chế tiết kháng sinh 12 Một số chất như trichozianine, trichothecene, trichotoxin A, viridin, ergokonin A… là kháng sinh có hoạt tính kháng nấm được phát hiện nhiều ở loài T. Cơ chế tiết enzyme Cơ chế quan trọng giúp Trichoderma đối kháng hiệu quả với nấm gây bệnh cây trồng là nhờ vào khả năng tiết ra nhiều loại enzyme. Các loại enzyme do Trichoderma tiết ra gồm có: Endochitinase, glucanase 1,3-β- glucosidase, chitobiosidase, trypsin, chymotrypsin, cellulase, protease, N-acetyl- β - glucusaminidase (NAGase).
Cơ chế tác dụng của hệ enzyme chitinase Trichoderma phổ biến hiện nay là dựa vào vị trí thủy phân, gồm 3 nhóm: Endochitinase phân cắt ngẫu nhiên trong nội mạch của chitin và chitooligomer tạo thành sản phẩm là một hỗn hợp các polymer có trọng lượng phân tử khác nhau, nhưng chiếm đa số là các diacetylchitobiose (GlcNAc)2 do hoạt tính của endochitinase không thể phân cắt thêm được nữa [46]. Chitin 1,4-β-chitobiosidase phân cắt chitin và chitooligomer [(GlcNAc)n, n>3] từ đầu không khử và chỉ phóng thích diacetylchitobiose (GlcNAc)2 [46]. Ngoài ra, để khảo sát kiểu phân cắt, người ta sử dụng N-acetyl-chito-oligosaccharide làm cơ chất. Các oligsaccharide thường được thủy phân bên trong, trên một vài vị trí xác định hoặc một cách ngẫu nhiên.
Một số enzyme chitinase có khả năng thủy phân trisaccharid, một số khác thì không. Có hai dạng chitinase thủy phân pentasaccharide: một phân cắt bên trong tạo disaccharid và trisaccharid; một phân cắt bên ngoài tạo các monosaccharid và tetrasaccharid. Tóm lại chitinase thực chất là enzyme cắt ngẫu nhiên [50], [54]. Endochitinase, chitobiosidase và β-N-acetylhexosaminidase có thể hoạt động trên cơ chất là dịch huyền phù chitin, vách tế bào nấm, chitooligomer và hoạt động kém hơn trên chitin thô thu từ vỏ tôm.
Chitin và vách tế bào nấm chứa chitin là những cơ chất thích hợp cho endochitinase hơn là chitobiosidase và β-N-acetylhexosaminidase. Chitooligomer (GluNAc)3 và cao hơn nữa là sợi chitin đều là cơ chất của cả 3 loại enzyme trên nhưng β-N- 13 acetyl hexosaminidase thì hoạt động chậm hơn trong việc làm giảm độ đục của huyền phù chitin. (GlcNAc)2 là cơ chất tốt nhất của β-N-acetyl hexosaminidase nhưng không là cơ chất của endochitinase hay chitobiosidase. Chính vì thế, có thể sử dụng (GlcNAc)2 để phân biệt hoạt tính giữa endochitinase, chitobiosidase và β-N-acetyl hexosaminidase.
Sản phẩm sau cùng của sự phân cắt là N-acetyl glucosamine [54]. Như vậy, nhờ sự kết hợp của cơ chế tiết các enzyme ngoại bào và các cơ chế đối kháng khác mà Trichoderma spp. đã thể hiện khả năng đối kháng với vi nấm gây bệnh một cách tối ưu, hiệu quả. Vai trò - tiềm năng ứng dụng của Trichoderma spp.
Kích thích cơ chế tự bảo vệ của thực vật Trong trường hợp này, Trichoderma spp. đóng vai trò là những nhân tố mẫn cảm với rễ, kích thích hệ thống miễn dịch chủ động và bị động ở thực vật. Khả năng đề kháng của thực vật tăng khi tăng: nồng độ của chất chuyển hoá; các enzyme liên quan đến cơ chế tự bảo vệ (phenylalanine ammonio-lyase, chalcone synthase); các enzyme liên quan tới sự tổng hợp phytoalexin, chitinase và glucanase. Sự có mặt các chất trao đổi của Trichoderma kích thích sự tổng hợp phytoalexin ở thực vật.
Đây là những protein liên quan đến sự kháng bệnh của cây. Nhờ đó, hệ thống gen thực vật có thể chủ động phản ứng lại các tác nhân gây bệnh và các nhân tố kích thích khác.Cơ chế tự bảo vệ thực vật có thể hoạt động mà không nhất thiết đòi hỏi sự kích thích của các sinh vật sống [41]. Ví dụ, lúa mạch có sức đề kháng với sự nhiễm Fusarium tăng lên khi có mặt của endochitinase từ T. Thuốc lá và khoai tây mang gen mã hóa chitinase từ T.
harzianum có sức chịu đựng cao hơn với điều kiện bất lợi của MT và hoàn toàn kháng lại nấm bệnh Alternaria alternate, Alternaria solani, Botrytis cinerea trên lá và với nấm bệnh từ đất như Rhizoctonia solani. Những kết quả tương tự đã đạt được với enzyme chitinase trong dâu tây; chitinase và β-1,6-glucanase trong dưa và cây cà chua. Sự kích hoạt các phản ứng tự bảo vệ thực vật sử dụng các nhân tố kích thích có thể là một chiến lược có giá trị như một thay thế cho việc sử dụng các thực vật biến đổi gen, để bảo vệ thực vật chống lại tác nhân gây bệnh [8].