Luận văn thạc sĩ về nâng cao hiệu suất thu hồi chất khô từ củ gừng tươi bằng phương pháp enzyme

Luận văn thạc sĩ công nghệ thực phẩm nghiên cứu phương pháp enzyme Zingiber officinale Rosc nhằm nâng cao hiệu suất thu hồi chất khô từ củ gừng tươi.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

97
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nâng cao hiệu suất thu hồi chất khô từ củ gừng tươi bằng enzyme

Nghiên cứu tập trung vào việc nâng cao hiệu suất thu hồi chất khô từ củ gừng tươi thông qua ứng dụng enzyme. Phương pháp này nhằm tối ưu hóa quy trình thủy phân, giúp tăng hiệu suất thu hồi các hợp chất có giá trị dinh dưỡng và dược liệu từ gừng. Enzyme α-amylase được sử dụng chính trong quá trình thủy phân, kết hợp với cellulase và pectinase để tăng hiệu suất. Kết quả cho thấy, hiệu suất thu hồi chất khô đạt 52,46% ở điều kiện tối ưu.

1.1. Tối ưu hóa quy trình thủy phân bằng enzyme

Quá trình tối ưu hóa được thực hiện bằng cách điều chỉnh các yếu tố như pH, nhiệt độ, nồng độ enzyme và thời gian thủy phân. Kết quả tối ưu đạt được ở pH 5.8, nhiệt độ 85°C, nồng độ enzyme 1% và thời gian thủy phân 52 phút. Việc kết hợp enzyme α-amylase với cellulase/pectinase giúp tăng hiệu suất thu hồi chất khô lên 15,09% so với phương pháp thủy phân độc lập.

1.2. Ứng dụng công nghệ enzyme trong thu hồi chất khô

Công nghệ enzyme đóng vai trò quan trọng trong việc thu hồi chất khô từ gừng. Enzyme α-amylase giúp phân hủy tinh bột, trong khi cellulase và pectinase hỗ trợ phá vỡ cấu trúc tế bào, giải phóng các hợp chất polyphenol và tăng hiệu suất thu hồi. Phương pháp này không chỉ nâng cao hiệu suất mà còn bảo toàn các hoạt chất sinh học có giá trị trong gừng.

II. Đánh giá chất lượng sản phẩm bột gừng sấy phun

Sau quá trình thủy phân, dịch gừng được sấy phun để tạo thành bột gừng hòa tan. Sản phẩm được đánh giá về thành phần dinh dưỡng, cảm quan và an toàn vi sinh. Kết quả cho thấy, bột gừng sấy phun đáp ứng các tiêu chuẩn về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, đồng thời giữ được hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa cao.

2.1. Thành phần dinh dưỡng và hoạt tính sinh học

Bột gừng sấy phun chứa hàm lượng polyphenol đạt 501,2 mg GAE, hoạt tính chống oxy hóa DPPH và ABTS tương đương 171,6 mg TEAC và 255 mg TEAC. Các chỉ tiêu vi sinh đều nằm trong giới hạn cho phép, đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

2.2. Đánh giá cảm quan và ứng dụng thực tế

Sản phẩm bột gừng được đánh giá cao về mùi vị, màu sắc và độ hòa tan. Đây là cơ sở để phát triển các sản phẩm thực phẩm chức năng và đồ uống từ gừng, mang lại giá trị kinh tế và sức khỏe cho người tiêu dùng.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ nâng cao hiệu suất thu hồi chất khô từ gừng mà còn mở ra hướng ứng dụng công nghệ enzyme trong chế biến thực phẩm. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng trong sản xuất bột gừng hòa tan, đồ uống chức năng và các sản phẩm dược liệu từ gừng, góp phần tăng giá trị kinh tế và sức khỏe cộng đồng.

3.1. Giá trị kinh tế và sức khỏe

Việc nâng cao hiệu suất thu hồi chất khô giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm chi phí và tăng giá trị sản phẩm. Các sản phẩm từ gừng giàu polyphenol và có hoạt tính chống oxy hóa cao, mang lại lợi ích sức khỏe cho người tiêu dùng.

3.2. Hướng phát triển trong tương lai

Nghiên cứu này là tiền đề cho việc ứng dụng công nghệ enzyme trong chế biến các loại thực phẩm và dược liệu khác. Cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa quy trình và mở rộng quy mô sản xuất, đáp ứng nhu cầu thị trường.

21/02/2025
Luận văn thạc sĩ công nghệ thực phẩm nâng cao hiệu suất thu hồi chất khô từ củ gừng tươi bằng phương pháp enzyme zingiber officinale rosc

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về nguyên liệu gừng 1. Nguồn gốc và phân bố Vào năm 1807, cây gừng được nhà thực vật học người Anh William Roscoe (1753-1981) đặt tên khoa học là: Zingiber officinale Rosc. Tên này có nguồn gốc từ tiếng Phạn “stringavera” có nghĩa là “hình dạng thân rễ giống như gạc hươu”.

Gừng được cho là có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc, cây gừng được trồng hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á (khoảng 50% sản lượng gừng ở thế giới được sản xuất tại Ấn Độ) [15]. Chi Zingiber ở châu Á có khoảng 45 loài, Việt Nam có 11 loài được trồng phổ biến từ Bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn) vào Nam (Cà Mau). Hiện nay, ở Việt Nam phổ biến nhất có 3 loại gừng: gừng dại (Zingiber purpureum Rosc), gừng gió (Zingiber zerumbet), và gừng vàng (Zingiber offcianale) [3]. Phân loại khoa học và đặc điểm hình thái Có rất nhiều loại gừng khác nhau đã được phát hiện và gây trồng, nhưng trong khuôn khổ bài nghiên cứu này chúng tôi chỉ khảo sát loại gừng vàng được gây trồng phổ biến nhất hiện nay ở Việt Nam [3], [5].

Giới: Plantae Bộ: Zingiberales Họ: Zingiberaceae Chi: Zingiber Loài: Z.officinale Tên khoa học: Zingiber officinale Rosc Hình 1. Gừng vàng Thân: là thân cỏ lâu năm một lá mầm, cao khoảng từ 0,6 ÷ 1m. Cấu tạo từ nhiều bẹ lá ôm lấy lõi thân. Thân rễ: thân rễ phình to, chứa các chất dinh dưỡng và thường được gọi là củ gừng, không có hình dạng nhất định, phân nhánh trên một mặt phẳng, làm thành 3 nhiều đốt, kích thước không đều, dài 3 ÷ 7cm, dày 0,5 ÷ 1,5cm, mặt ngoài màu trắng tro hay vàng nhạt, có vết nhăn dọc, ở đầu đốt có vết tích của thân cây đã rụng, trên các đốt có vết sẹo của các lá khô (vảy), vết bẻ màu trắng tro hoặc ngà vàng, lõi tròn rõ, mùi thơm, vị cay nóng.

Mặt cắt thân rễ tròn, từ ngoài vào trong có: biểu bì (1) gồm một lớp tế bào hình chữ nhật, nhỏ xếp tương đối đều đặn. Dưới lớp biểu bì là mô mềm vỏ (2) gồm 5 ÷ 6 lớp tế bào hơi dẹp, vách tẩm chất gỗ. Phía dưới lớp mô mềm vỏ này có khoảng 5 lớp bần. Lớp bần (3) gồm những tế bào hình chữ nhật, xếp thành vòng đồng tâm.

Nội bì (5) gồm một lớp tế bào thành hóa gỗ tạo thành vòng. Vỏ trụ (6) cấu tạo từ những tế bào thành cellulose tạo thành vòng xếp sát nội tế bào. Các bó libe (8), gỗ (9) rải rác trong mô mềm vỏ, mô mềm ruột và tập trung nhiều sát vỏ trụ. Trong mô mềm ruột, mô mềm vỏ có nhiều tế bào chứa tinh dầu (4), tinh bột (7).

Vi giải phẩu thân rễ gừng [54] 1. Mô mềm vỏ; 3. Tế bào chứa tinh dầu; 5. Gỗ Lá: lá màu xanh đậm, dài 15 ÷ 20cm, rộng khoảng 2cm, lá mọc so le thành hai dãy, thẳng đứng, có bẹ lá, không cuống, hình ngọn giáo, thắt lại ở gốc, mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt, gân lá song song và có màu nhạt.

Bẹ nhẵn, có thể ôm vào nhau thành một thân giả. 4 Hoa: cây gừng ít khi ra hoa, trục hoa mọc từ gốc, dài 15 ÷ 20cm. Hoa màu vàng xanh, dài 5cm, rộng 2 ÷ 3cm, có ba cánh hoa dài khoảng 2cm, mép cánh hoa và nhị hoa màu tím. Điều kiện sinh thái và thu hoạch Gừng là một loài cây thân thảo, ưa sáng nhưng có khả năng chịu bóng.

Cây gừng cũng sinh trưởng bình thường dưới tán che của các vườn cây ăn quả và rừng. Thời gian sinh trưởng mạnh của cây trùng với mùa hè – thu nóng và ẩm. Gừng tái sinh dễ dàng bằng những đoạn thân rễ có nhú mầm, có thể trồng quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa xuân. Sau khi thu hoạch, gừng được loại bỏ đất, rễ, gốc và được chuyển vào kho bảo quản nơi thông thoáng.

Điều kiện bảo quản tối ưu ở nhiệt độ 10 ÷ 150C, độ ẩm 75%, thời gian bảo quản từ 6 ÷ 24 tuần [10], [22]. Thành phần hóa học Trong củ gừng có các hợp chất tinh dầu bay hơi, acid béo, các hợp chất cay, nhựa gừng, protein, enzyme, pentosan, tinh bột và muối khoáng. Thành phần các hợp chất này khác nhau tùy thuộc theo giống, vùng đất, điều kiện canh tác, độ trưởng thành của cây gừng. Thành phần dinh dưỡng của củ gừng trong 100g phần ăn được Thành phần Đơn vị tính Giá trị Nước g 90 Năng lượng Kcal 29 Protein g 0,4 Lipid g 0,8 Carbohydrate g 5,1 Chất xơ g 3,3 Folates µg 11 Niacin mg 0,750 Acid pantothenic mg 0,203 Pyridoxine mg 0,160 5 Vitamin C mg 5 Vitamin E mg 0,26 Vitamin K mg 0,1 Na mg 7 K mg 316 Ca mg 60 Cu mg 226 Fe mg 2,5 Mg mg 43 P mg 8 Zn mg 0,34 [Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam, 2007] Tinh dầu gừng: hương thơm và mùi vị của gừng được xác định bởi các thành phần dễ bay hơi trong tinh dầu gừng, trong đó bao gồm chủ yếu là sesquiterpene hydrocacbon, monoterpene hydrocarbon và monoterpene oxy hóa.

Các thành phần monoterpene được cho là đóng góp quan trọng nhất vào hương thơm của gừng, nó có nhiều hơn trong tự nhiên khi chưng cất tinh dầu từ gừng tươi so với chưng cất tinh dầu từ gừng khô. Sesquiterpene oxy hóa chiếm số lượng tương đối nhỏ trong các thành phần của tinh dầu dễ bay hơi nhưng nó góp phần đáng kể trong việc tạo nên hương vị của gừng [15], [22]. Thành phần của tinh dầu dễ bay hơi trong gừng [15] 6 Tinh dầu gừng là chất lỏng có màu vàng đến màu vàng chanh. Hàm lượng các chất này khoảng từ 1 ÷ 3% khối lượng củ gừng tươi, phần chủ yếu của tinh dầu gừng có nhiệt độ sôi khoảng 256 ÷ 2660C [22].

Tinh dầu gừng thường được sản xuất bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơn nước, trích ly CO2 siêu tới hạn từ gừng nguyên liệu. Chất lượng hương thơm và các thành phần cũng như tính chất dược lý phụ thuộc vào giống, đất, điều kiện trồng trọt… Nhựa dầu gừng (oleoresin): nhựa dầu gừng chứa các hợp chất không bay hơi là các hợp chất gây cay chủ yếu trong gừng, ngoài ra một vài hợp chất không bay hơi khác cũng như tinh dầu không bay hơi, carbohydrate và các acid béo. cũng nằm trong nhựa gừng [19]. Nhựa dầu thu được bằng phương pháp trích ly dung môi (acetone, ethanol, methanol, dichloromethane, dichlorethane và trichloroethane).

Hàm lượng của nhựa dầu dao động 5,3-8,59% khối lượng củ gừng tươi [22]. Hợp chất cay: các thành phần tạo nên vị cay trong gừng là do đồng đẳng của n-gingerol, là một dãy đồng đẳng của phenols, là các hợp chất khó bay hơi. Nhiều nhất là 6-gingerol. Ngoài sự hiện diện của 6-gingerol thì còn các hợp chất khác như: 3- gingerol, 4- ginerol, 8-gingerol, 10-gingerol và 12-gingerol.

Gingerols trong gừng nhiều nhất là các đồng đẳng với n = 6; 8; 10. Vị cay của gừng khô chủ yếu là do các shogaols và paradols là kết quả của quá trình hydrate hóa hoặc do thời gian bảo quản lâu từ gingerols và gingerone. Nếu nhựa dầu gừng tốt thì trong đó thành phần chất cay chiếm khoảng 25 ÷ 30% trong thành phần nhựa dầu [15], [44].4: Các thành phần tạo nên vị cay chủ yếu trong nhựa dầu gừng [15] 7 Carbohydrate: Carbohydrate trong gừng chủ yếu là tinh bột. Tinh bột trong gừng chiếm tỷ lệ khá lớn, hàm lượng tinh bột tối đa khi gừng phát triển đầy đủ sẽ thay đổi từ 40,34 ÷ 49,72% (so với % chất khô).

Một số nghiên cứu khác cũng báo cáo sự gia tăng hàm lượng tinh bột có giới hạn tối đa 59% đến tối thiểu 40,4% [15], [38], [41]. Ngoài tinh bột, trong gừng còn chứa một lượng nhỏ các loại đường tự do, glucose, fructose và sacharose… [38]. Lipid: hàm lượng lipid trong gừng khác nhau tùy theo giống, chúng dao động từ khoảng 3-11% trên hàm lượng nhựa dầu nhưng nhìn chung trung bình khoảng 5%. Lipid trong gừng chứa nhiều acid béo không no như oleic, linoleic, linolenic tương ứng chiếm 22,9%, 23,2%, 6,6% tổng chất béo và có thể gây mùi ôi và mất mùi thơm trong bột gừng và dịch trích trong quá trình bảo quản [19].

Một số nghiên cứu đã công bố từ gừng Từ lâu gừng đã được nhiều nhà khoa học chú ý đến bởi các tác dụng có lợi cho sức khỏe. Một nghiên cứu [52] đã làm thí nghiệm so sánh gừng và scopolamine và damphetamine nhận thấy bột gừng khô có hiệu lực chống say tàu xe hơn scopolamine và damphetamine, trong khi gừng không gây ra cảm giác buồn ngủ, khô miệng, táo bón và bí tiểu như dùng scopolamine và damphetamine. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, trước khi lên tàu xe (khoảng 30 phút) nếu nhai một củ gừng nhỏ sẽ giảm thiểu hiện tượng say tàu xe suốt cuộc hành trình. Những nghiên cứu khác [29], [48], [53] cho rằng gừng có tác dụng kích thích nhu động ruột, nhưng lại không gây nên sự co thắt quá mức ở bộ máy tiêu hóa.

Điều này giải thích được tác dụng giúp dễ tiêu hóa thức ăn, chống tiêu chảy, đầy hơi, chống ối mữa và say tàu xe. Trong gừng có các hoạt chất chống oxy hóa, ức chế hình thành các chất gây viêm. Gừng được xem có tác dụng điều hòa miễn dịch, dùng làm giảm đau kháng viêm. Nghiên cứu [14] cho 18 người bị viêm khớp, 10 người bị đau cơ dùng gừng từ 3 tháng đến 30 tháng (với liều từ 500 – 1000mg gừng ) thì 75% người viêm khớp và 100% người đau cơ đã được giảm đau và giảm sưng.

Ở một thí nghiệm khác, 7 người bị thấp khớp nặng không đáp ứng với nhiều loại thuốc khác nhưng 8 khi dùng mỗi ngày 5g gừng tươi hoặc 100 -1000mg gừng khô thì bệnh biến chuyển rõ rệt: giảm đau, cải thiện độ hoạt động của khớp, giảm cứng khớp vào buổi sáng. Ngoài ra, còn một số nghiên cứu khác trên thế giới đã công bố từ gừng được tóm tắt trong bảng 1. Các nghiên cứu về tác dụng có lợi cho sức khỏe của gừng Loại nghiên Tác dụng Hợp chất Tác giả cứu có lợi tác dụng Chống oxy hóa Ức chế sự oxy hóa lipid Dịch trích gừng [24] Ức chế sinh tổng hợp hydrogen Tinh dầu gừng [25], [29] peroxide (H2O2) trong tế bào sụn do acid fulvic Ngăn ngừa ảnh hưởng của gốc tự do Gingerol, shogaol [25] Chống ung thư Ngăn ngừa sự phát triển của tế bào Dịch trích gừng [17], [42] ung thư Chống viêm Khả năng chống viêm Gingerol, shogaol, [23], [25] gingernone,6- gingerdiol, hexahydrocurcumin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nâng cao hiệu suất thu hồi chất khô từ củ gừng tươi bằng enzyme" tập trung vào việc ứng dụng enzyme để tối ưu hóa quá trình chiết xuất chất khô từ gừng tươi, một phương pháp hiệu quả nhằm cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu này không chỉ mang lại lợi ích cho ngành công nghiệp thực phẩm mà còn mở ra hướng đi mới trong việc tận dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên. Để hiểu sâu hơn về các ứng dụng của enzyme trong lĩnh vực tương tự, bạn có thể tham khảo Luận án nghiên cứu phối hợp esterase và hệ enzyme thủy phân từ nấm trong chuyển hóa phụ phẩm công nông nghiệp để thu nhận bioethanol, Luận văn nghiên cứu tạo chế phẩm enzyme chitinase thô từ chủng trichoderma sp phòng trừ vi nấm gây hại trên cây cà chua, và Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá sự đa dạng và vai trò của một số module trong cấu trúc enzyme thủy phân cellulose từ khu hệ vi sinh vật trong dạ cỏ của dê. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về các ứng dụng đa dạng của enzyme trong nông nghiệp và công nghiệp.