Chương 1: Tổng quan 4 Chương 4: Trình bày kết quả của việc thực hiện phân tích thông tin dữ liệu và các kiểm định, từ đó rút ra kết luận cho những giả thuyết nghiên cứu đã đề nghị trong chương 2. Chương 5: Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, nêu lên hàm ý quản lý và những đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn đồng thời cũng nêu những hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. Chương 2: Cơ sở lý thuyết 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. CÁC KHÁI NIỆM Ngành xây dựng là một ngành kinh doanh rất cạnh tranh và có rủi ro cao.
Do giới hạn của mô hình quản lý dự án truyền thống, tính cạnh tranh và sự nhận thức về rủi ro có thể làm mối quan hệ giữa các bên trở thành đối địch. Rất nhiều các nghiên cứu trước đây đồng ý rằng trạng thái đối địch tác động đáng kể đến năng suất và hiệu quả của ngành công nghiệp xây dựng (Kadefors 2004). Vào cuối những năm 1980, sự hợp tác nổi lên như là một phương pháp quản lý dự án mới, tạo ra quan điểm đôi bên cùng có lợi giữa tất cả các bên tham gia dự án xây dựng để thay đổi tình trạng đối địch. Sự hợp tác tạo ra một môi trường tin tưởng, khuyến khích các bên tham gia dự án đóng góp tối đa khả năng để dự án thành công và mang lại lợi ích cho tất cả các bên.
Sự hợp tác là một khái niệm dựa trên nỗ lực cộng tác vì lợi ích chung, nó được sử dụng phổ biến ở nhiều nước khác nhau và trong các khu vực kinh tế khác nhau. Và theo Bresnen và Marshall (2000), ứng dụng của sự hợp tác trong xây dựng có thể mang lợi ích trực tiếp đến cả chủ đầu tư và nhà thầu bằng cách cải tiến việc thực hiện các dự án xây dựng. Có nhiều nghiên cứu trước đây đưa ra định nghĩa về sự hợp tác và sự hợp tác thành công. Sự hợp tác Hợp tác không phải là một định nghĩa mới trong lĩnh vực kinh doanh, tuy nhiên cũng chưa có một định nghĩa về sự hợp tác một cách toàn diện.
Sự hợp tác là mối quan hệ diễn ra trong một thời điểm cụ thể, mà ở đó nhu cầu của tất cả các bên có liên quan gặp nhau. Chương 2: Cơ sở lý thuyết 6 Được trích dẫn phổ biến nhất về sự hợp tác là định nghĩa của Construction Industry Institute – CII (1991): “một cam kết lâu dài giữa hai hoặc nhiều tổ chức với mục đích đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể bằng cách tối đa hóa hiệu quả nguồn tài nguyên của các thành phần tham gia vào dự án. Điều này đòi hỏi thay đổi mối quan hệ truyền thống để phát triển một văn hóa chia sẻ mà không phân biệt ranh giới giữa các tổ chức. Mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng, sự cống hiến cho mục tiêu chung và một sự hiểu biết lẫn nhau về những giá trị và mong đợi của từng cá nhân.” Trong khi đó, National Economic Development Office – NEDO (1991) lại định nghĩa hợp tác là: “… một thỏa thuận theo hợp đồng giữa khách hàng và nhà thầu được lựa chọn, và đây có thể là một kết thúc mở hoặc có giới hạn một số năm hơn là khoảng thời gian của một dự án cụ thể.
Suốt quá trình của thỏa thuận, nhà thầu có thể phải chịu trách nhiệm cho một số dự án lớn hoặc nhỏ, công tác bảo hành và kết thúc dự án. Thỏa thuận có cơ chế chính thức hoặc không chính thức để thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên. Theo Matthews và các cộng sự (1996), sự hợp tác được định nghĩa theo một trong hai cách sau: thứ nhất là định nghĩa theo các thuộc tính như niềm tin, chia sẻ tầm nhìn và cam kết dài hạn; thứ hai là định nghĩa theo quá trình, mà ở đó sự hợp tác được xem xét như là một hành động bao gồm thực hiện các nhiệm vụ, thỏa thuận mục đích và hướng dẫn các hội thảo về sự hợp tác. Và cả hai định nghĩa của CII và NEDO đều bao gồm cả hai định nghĩa “thuộc tính” và “quá trình” Tại hội nghị về hợp tác tại Đại Học Kentucky vào tháng 10/1992, hội nghị đã đưa ra định nghĩa: “sự hợp tác là việc tạo ra một mối quan hệ đặc biệt giữa các bên kí hợp đồng trong ngành công nghiệp thiết kế/ thi công.
Mối quan hệ này khuyến khích các bên tham gia thay đổi mối quan hệ đối đầu truyền thống thành một cách tiếp cận dựa nhiều vào nhóm và sự hợp tác, điều này sẽ thúc đẩy việc đạt được các mục tiêu cùng có lợi, bao gồm cả chống lại các xung đột chính”. Chương 2: Cơ sở lý thuyết 7 Trong lúc đó, Cowan và các cộng sự (1992) đã định nghĩa về hợp tác: “là một phương pháp chuyển đổi mối quan hệ hợp đồng thành một nhóm dự án gắn liền với các mục tiêu và thủ tục, được lập ra để giải quyết các tranh chấp một cách kịp thời và hiệu quả”. Bennett và Jayes (1995) định nghĩa: “Hợp tác là một phương pháp tiếp cận sự quản lý được sử dụng bởi hai hay nhiều tổ chức để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể bằng cách tối đa hóa hiệu quả nguồn tài nguyên các thành phần tham gia vào dự án. Mối quan hệ đối tác yêu cầu tất cả các bên tham gia làm việc cùng nhau trên một mối quan hệ mở và tin tưởng lẫn nhau dựa trên mục tiêu chung.
Sự hợp tác trong ngành xây dựng Hợp tác là một sự sắp xếp mà các đơn vị tham gia trong dự án được khuyến khích làm việc hiệu quả với nhau. Tất cả các bên trong một dự án xây dựng dựa trên sự tin tưởng và cởi mở làm việc cùng nhau vì hiệu quả của dự án mà tránh xảy ra những xung đột. Sự hợp tác trong xây dựng là một cam kết giữa chủ đầu tư, tư vấn giám sát và nhà thầu để cải thiện sự trao đổi thông tin và hạn chế các tranh chấp bằng cách làm việc cùng nhau để cùng chia sẻ những mục tiêu và nhiệm vụ chung của một dự án cụ thể. Sự hợp tác dựa trên thiện chí và sự tin tưởng, khuyến khích giao tiếp cởi mở, và giúp các bên loại bỏ, hạn chế những bất ngờ, những mối quan hệ đối nghịch trong quá trình thực hiện dự án.
Nó giúp cho các bên có thể dự đoán và giải quyết được các vấn đề. Sự hợp tác trong một dự án xây dựng cần sự tham dự của tất cả các nhân viên có thẩm quyền ra quyết định như: đại điện chủ đầu tư, tư vấn giám sát, nhà thầu chính, nhà thầu phụ, các nhà cung cấp, đại diện chính quyền, đại diện các nhân viên môi trường, các nhân viên an toàn. Phân loại sự hợp tác Chương 2: Cơ sở lý thuyết 8 Sự hợp tác được phân loại dựa trên thời gian của dự án. Đó có thể là sự hợp tác dài hạn, kéo dài trong khoảng thời gian của một vài dự án.
Mặt khác, sự hợp tác có thể được tạo nên chỉ một lần cho một dự án riêng lẻ.1: Sự khác nhau giữa hợp tác dự án và hợp tác chiến lược Hợp tác dự án Hợp tác chiến lược Là sự sắp xếp hợp tác giữa các tổ chức Là sự sắp xếp hợp tác chiến lược (giữa cho một dự án cụ thể, trong phạm vi các tổ chức hoặc các phòng ban khác thời gian của dự án. Nó có thể bao gồm: nhau trong cùng một tổ chức) rộng hơn ü Toàn bộ dự án xây dựng. Mối phạm vi của một sự án, kể cả bao gồm quan hệ được thành lập suốt cả sự cam kết về cung cấp mức độ hợp tác quá trình dự án xây dựng từ giai cao hơn giữa các đối tác trong dự án. đoạn ban đầu đến giai đoạn hoàn thành dự án.
ü Chỉ trong giai đoạn thiết kế, chỉ bao gồm phần đầu của giai đoạn lập kế hoạch của một dự án. ü Sự sắp xếp hợp tác tại giai đoạn ban đầu, lúc mà các thành viên cùng làm việc với nhau để tạo nên một kế hoạch hoặc đề cương. Nguồn: Barlow và các cộng sự (1997) 2. Khái quát về sự hợp tác thành công Construction Industry Institute – CII (1991), dựa nghiên cứu gần 300 dự án đã hoàn thành có áp dụng sự hợp tác, đã xác định được các lợi ích có ý nghĩa sau: o Tổng chi phí dự án được giảm gần 10%.
o Lợi nhuận tăng 25%. o Toàn bộ thời gian hoàn thành dự án giảm khoảng 20%./ o Sự thay đổi tiến độ giảm 48%. o Số lượng các đòi hỏi giảm gần 83%. o Thay đổi đơn hàng giảm 80%.
o Sự hài lòng với công việc tăng 30%. Chương 2: Cơ sở lý thuyết 9 Cheng và các cộng sự (2000) đã xác định và thảo luận các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công của dự án hợp tác. Nghiên cứu định nghĩa một mô hình bao gồm các yếu tố thành công quan trọng của sự hợp tác trong xây dựng. Sự hợp tác có thể thành công bằng cách sử dụng các kỹ năng quản lý phù hợp và phát triển một đặc điểm ngữ cảnh.
Theo mô hình, một số biện pháp khách quan và chủ quan đã được sử dụng để đánh giá tỷ lệ của quan hệ đối tác thành công. “Một nghiên cứu kinh nghiệm về lợi ích của hợp tác xây dựng tại Hong Kong” - Chan và các cộng sự (2002) đã đưa ra mười ba lợi ích của hợp tác trong các dự án xây dựng cần chú ý là: cải thiện văn hóa, tăng sự hài lòng, tiềm năng cho sự đổi mới, giảm tranh chấp, cải thiện hiệu suất, an toàn, mối quan hệ gần gũi hơn, giải quyết vấn đề hiệu quả, cải tiến liên tục, tăng cường truyền thông, cải thiện kiểm soát chi phí, giảm chi phí hành chính, cải thiện chất lượng sản phẩm, cải thiện kiểm soát thời gian. Lu và Yand (2007) chỉ ra rằng hợp tác trong xây dựng sẽ giúp các công ty xây dựng đạt được lợi ích chiến lược trong dự án, trong kinh doanh và các cấp doanh nghiệp. Chúng bao gồm giảm rủi ro, cải tiến chất lượng, giảm chi phí, đúng thời gian hoàn thành, giảm làm lại, tăng lợi nhuận, tăng thị phần, nâng cao vị thế cạnh tranh, mở rộng khách hàng, hiệu quả chi phí, tăng năng suất lao động, hiệu quả cải thiện, tăng cơ hội cho sự đổi mới, liên tục cải tiến chất lượng sản phẩm và dịch vụ.
Sự hợp tác có thể tác động đến nhiều công đoạn của quản lý dự án.