Mở đầu Trước đây tăng cân và tích mỡ thường được xem như những biểu hiện của sức khoẻ và thịnh vượng. Ngày nay khi mức sống hên tục tăng lên, tình tr ạng th ừa cân (T1TC) và béo phì đang là mối nguy cơ lớn đối với sức khoẻ của con người ở tất cả các nước trên th ế gi ới. Tinh trạng thừa cân và béo phì là một bệnh mạn tính, có mặt ở các nước đã và đang phát triển, tác động lên mọi đối tượng đặc biệt là trẻ em và đang là mối quan tâm c ủa s ức kho ẻ c ộng đ ổng, đồng thời đây cũng là yếu tố liên quan có ý nghĩa nhất với một số bệnh mãn tính [8]. Thừa cân và béo phì hiện nay đang tiếp tục gia tăng trên toàn thế giới, nó không chỉ phổ biến ở các nước phát triển mà còn đang tăng dần tại những nước đang phát triển k ể c ả các nước mà suy dinh dưỡng (SDD) vẫn còn phổ biến [18], [51].
Hiện nay người ta quan tâm nhiều đến tình trạng thừa cân ở trẻ em vì thừa cân sẽ ảnh h ưởng đ ến s ức kho ẻ c ủa tr ẻ khi tr ướng thành do làm gia tăng các nguy cơ đối với các bệnh như tăng huy ết áp, b ệnh m ạch vành, ti ểu đường, viêm xương khớp, sỏi mật [18], [30]. Nhiều tác giả nhận thấy khoảng 30% tré th ừa cân tiền học đường, 50% trẻ thừa cân học đường và 80% thanh thiếu niên thừa cân sẽ tiếp tục thừa cân cho tới khi trưởng thành [20], [30], [42], [58], [60], Tinh trạng thừa cân và béo phì là một loại bệnh lý tốn nhiều công sức và kinh phí phòng chống. Nhà di truyền học và dinh dưỡng học Philippe Frognel (Pháp) đã cảnh báo: "Nếu không có chiến dịch phòng ngừa đích thực về mặt sức khoẻ, ta sẽ tạo ra một cộng đồng những người tàn tật. Thật vậy, thừa cân và béo phì có thể phòng ngừa được, nhưng điều trị rất khó khăn, tốn kém và hầu như không có kết quả.
Hiện nay ở Mỹ tỷ lệ béo phì kho ảng t ừ 20% đ ến 40%, người ta đã phải chi hơn 50 tỷ USD hàng năm chữa béo phì và các bệnh 2 có liên quan tới béo phì. Tổ chức y tế thế giới (WHO) cũng đã khuyến cáo các nước hãy quan tâm hơn nữa đến vấn đề thừa cân và béo phì cũng như tác hại c ủa nó lên s ức kho ẻ. "Tr ẻ em hôm nay, thế giới ngày mai", thừa cân ở trẻ em nếu không được phòng ngừa và điều trị sớm sẽ trở thành gánh nặng cho y tế và xã hội [23], [24], [31], [34], [40], [42], [54], [76]. Tại Việt Nam, nền kinh tế chuyển tiếp với sự phân cực ngày càng tăng gi ữa gi ầu và nghèo đã ảnh hưởng không ít tới dinh dưỡng và phát triển của trẻ.
Bên cạnh tỷ lệ SDD còn khá cao ở nhiều vùng dân cư nhưng tình trạng thừa cân và béo phì đang có xu hướng gia tăng, đặc biệt là tại các đô thị lớn [8|. Lứa tuổi học đường là lứa tuổi phát triển nhanh c ả v ề trí tu ệ l ẫn thể lực. Khẩu phần ăn của trẻ lứa tuổi này chịu ảnh hưởng trực ti ếp t ừ b ữa ăn, n ếp s ống và điểu kiện kinh tế của gia đình. Các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng c ủa m ột s ố tr ường tiểu học tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ trẻ thừa cân đang có xu hướng gia tăng.
Tại Hà Nội, theo nghiên cứu của Lê Thị Khánh Hoà (1996) cho thấy tỷ lệ béo phì của trẻ 3 - 6 tuổi là 1,1%. Kết quả nghiên cứu của Viện Dinh Dưỡng (1997) cho thấy tỷ lệ này là 4,1% ỏ' trẻ 6 - 1 I tuổi tại 2 trường tiểu học quận Hoàn Kiếm. Tại thành phố Hồ Chí Minh, theo nghiên cứu của Trần Hồng Loan (1998), tỷ lệ trẻ thừa cân lên tới 12,2% trong nhóm học sinh tiểu học tại quận 1 [2], [4], [10], [11]. Đống Đa là một quận trung tâm thành phố Hà Nội, có mật độ dân số và tốc độ phát triển kinh tế cao.
Trên địa bàn quận có 20 trường tiểu học với số lượng học sinh vào khoảng 23. Chương trình y tế học đường được triển khai tại tất cả các trường tiểu h ọc trong qu ận. Tuy nhiên, nhũng nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em l ứa tu ổi ti ểu h ọc còn h ạn chế và chưa có hệ thống. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhàm đánh giá tình trạng dinh dưỡng đặc biệt là TTTC và béo phì, đ ồng th ời tìm hi ểu m ột s ố yếu tố nguy cơ ở học sinh tiểu học quận Đống Đa năm 2001.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và tìm hiếu một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới tình trạng thừa cân của học sinh tiểu học tại quận Đống Đa - Hà Nội. Mục tiêu cụ thế 2. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học tại quận Đống Đa - Hà Nội.
Xác định mối liên quan giữa khẩu phần ăn, tập quán ăn uống, các hoạt động hàng ngày, yếu tố gia đình ảnh hưởng tới tình trạng thừa cân của học sinh tiểu học. Tìm mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành của phụ huynh học sinh hiện nay với tình trạng thừa cân và béo phì của học sinh tiểu học. Giả thuyết nghiên cứu 3. Có mối liên quan thuận chiều giữa thói quen ãn uống (thích ăn đồ béo, ngọt) v ới tình trạng thừa cân của trẻ.
Có mối liên quan giữa thời gian hoạt động thể thao và hoạt động tĩnh tại với tình tr ạng thừa cân của trẻ. Tré ít hoạt động thể thao và thích hoạt động tĩnh tại có nguy cơ bị thừa cân cao hơn. Có mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của bố mẹ với tình trạng thừa cân của con. Trẻ có bố mẹ bị thừa cân có nguy cơ bị thừa cân cao hơn những trẻ mà bố mẹ có TTDD bình thường.
Có mối liên quan thuận chiều giữa cân nặng khi sinh với tình trạng thừa cân của trẻ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa, phân loại tình trạng thừa cân và béo phì ó trẻ em 6-11 tuổi 1. Định nghĩa Trong những thập ký gần đây, mối quan hệ giữa dinh dưỡng, chế độ ăn và các bệnh mãn tính đã được quan tàm nhiều.
Mọi người đều biết rằng cơ ch ế gi ữ được cân n ặng ổn đ ịnh là nhờ trạng thái cân bàng giữa năng lượng thu vào và năng lượng tiêu hao [5]. Tinh trạng thừa cân (TTTC) là tình trạng cân nặng cơ thê tăng quá m ức so v ới cân n ặng chuẩn tương ứng với chiều cao [18], [19], [20], [21], [30], [54], [63]. Tinh trạng béo phì là một trạng thái bệnh lý được đặc trưng bới sự tích tụ mỡ nhiều quá mức cần thiết cho những chức năng tối ưu của cơ thế và làm tổn hại tới sức khoẻ [66]. Các phương pháp chán đoán thừa cân và béo phì ở trẻ em - Đánh giá thừa cán Theo WHO để đánh giá thừa cân ở trẻ em dựa vào chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao (CN/CC) trong khi đối với thanh thiếu niên là chỉ số khối cơ th ể (BM Ỉ) theo tu ổi [67].
Giá tr ị ngưỡng khuyến cáo đê’ đánh giá thừa cân cho CN/CC là > + 2SD (Z - score), và cho BM1 theo tuổi là > 85 percentile, cả 2 đều so sánh với quần thể tham khảo NCHS. - Đánh giá béo phì Do béo phì là sự dư thừa mỡ dự trữ trong cơ thê' [18] nên để đánh giá béo phì người ta đánh giá mỡ toàn bộ cơ thể, có nhiều phương pháp đê' đánh giá béo phì nhưng thông thường hay sử dụng các phương pháp sau: 5 + Đo chiều dầy lớp nếp gấp da: Đo chiều dầy nếp gấp da là một phương pháp nhanh, ít tốn kém và khá chính xác. Người ta sử dụng thước đo đặc biệt và đo tại nếp gấp cơ nhị đầu, cơ tam đầu, dưới xương bả vai, trên mào châu. Hiện nay người ta vẫn chưa rõ tại ngưỡng nào thì nguy cơ sức khoẻ bị đe doạ nên theo một số tác giả định nghĩa béo phì khi phần trăm mỡ cơ thể tăng trên 30% trọng lượng cơ thể đối với trẻ tiền dậy thì (trên 25% với trẻ nam và trên 35% với trẻ nữ) [64J.
Theo WHO, trẻ được xem là béo phì khi vừa có thừa cân vừa có thừa mỡ tức là có CN/CC hoặc BMI theo tuổi cao và có BDNGD của cơ tam đầu và c ơ sau vai > 90th percentile so với quần thể tham khảo NCHS [67]. + Các phương pháp xác định khối mỡ cơ thố: Đo tỷ trọng cơ thể, đo toàn bộ nước trong cơ thể, đo khối lượng mỡ cơ thể, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hạt nhân. cho kết quả chính xác. Tuy nhiên nhũng phương pháp này thường tốn kém, khó thực hiện và chỉ tiến hành trong phòng xét nghiệm không ứng dụng trong khám cộng đồng [63], [64].
Phân loại béo phì 1. Phán loại theo sinh bệnh học - Béo phì đơn thuần (béo phì ngoại sinh): Là béo phì không do sinh bệnh học rõ ràng [54]. - Béo phì bệnh lý (béo phì nội sinh): Là béo phì do có các vấn đề bệnh lý liên quan tới béo gây nên [54]. Phán loại theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì - Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): Là loại béo phì có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ [38].
- Béo phì bắt đầu ở người lớn: Là loại béo phì có tăng kích thước tế bào mỡ còn số lượng tế bào mỡ thì bình thường [38]. - Béo phì xuất hiện sớm: Là loại béo phì xuất hiện trước 5 tuổi [71], [73]. - Béo phì xuất hiện muộn: Là loại béo phì xuất hiện sau 5 tuổi [71], [73]. 6 Các giai đoạn dễ xuất hiện béo phì hơn cả là thời kỳ nhũ nhi, 5 tuổi, 7 tuổi và vị thành niên.
Béo phì ở các thời kỳ này làm tăng nguy cơ của béo phì trường diễn và các bi ến ch ứng khác [28]. Phán loại theo phán vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu [66], [74], [75] - Béo bụng (béo trung tâm, béo phần trên, béo hình quả táo, béo ki ểu đàn ông - th ế' Android): Là dạng béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng.