CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ẢNH HƯỞNG CỦA DINH DƯỠNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN Ở TRẺ MẦM NON Giai đoạn từ 1 đến 6 tuổi (thời kỳ răng sữa) được chia làm hai thời kỳ: lứa tuổi nhà trẻ từ 1 - 3 tuổi và mẫu giáo từ 4 - 6 tuổi. Giai đoạn mẫu giáo có đặc điểm là tốc độ lớn của trẻ chậm dần, trẻ mất dạng mập tròn mà thon dần. Về cân nặng, mỗi năm trẻ tăng trung bình 2000 gam.
Chiều cao lúc 4 tuổi là 1m gấp đôi so với lúc mới sinh. Tổ chức não đạt mức 100% trưởng thành lúc trẻ 6 tuổi. Trẻ ham thích tìm hiểu môi trường xung quanh, thích bạn bè, nói rành rẽ, biết hát, đếm số, học vẽ. Trẻ điều khiển được một số động tác, trở nên khéo léo.
Vào cuối giai đoạn mẫu giáo trẻ bắt đầu thích ăn một số thức ăn cứng và chán thức ăn mềm. Ở giai đoạn này trò chơi là hoạt động giúp trẻ hình thành trí tưởng tượng, nhân cách và tư duy [7]. Có thể thấy cách ăn của trẻ, cách nuôi trẻ ở độ tuổi này là rất quan trọng. Đây là giai đoạn trẻ cần được ăn, nhưng cũng là thời điểm trẻ cần được “học cách ăn”, cần được quen với nếp ăn uống khoa học, hợp lý.
Những sơ suất trong cách nuôi và dạy trẻ đều có thể gây ảnh hưởng xấu nhất định đến sự trưởng thành sau này của trẻ [17]. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI THỪA CÂN, BÉO PHÌ 1. Định nghĩa Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao. Còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khỏe [53], [54].
Phân loại thừa cân, béo phì 1. Phân loại béo phì theo sinh bệnh học: Béo phì đơn thuần (béo phì ngoại sinh): Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng. Béo phì bệnh lý (béo phì nội sinh): Là béo phì do các vấn đề bệnh lý liên quan tới béo gây nên: - Béo phì do nguyên nhân nội tiết. 4 Khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ đa khoa Niên khóa: 2015 – 2021 - Béo phì do suy giáp trạng.
- Béo phì do cường vỏ thượng thận. - Béo phì do thiếu hormon tăng trưởng. - Béo phì trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng. - Béo phì trong thiểu năng sinh dục.
- Béo phì do các bệnh về não [48], [16]. Loại béo phì theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì : - Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): Là loại béo phì có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ. - Béo phì bắt đầu ở người lớn: Là loại béo phì có tăng kích thước tế bào mỡ còn số lượng tế bào mỡ thì bình thường. - Béo phì xuất hiện sớm: Là loại béo phì xuất hiện trước 5 tuổi.
- Béo phì xuất hiện muộn: Là loại béo phì xuất hiện sau 5 tuổi. Các giai đoạn thường xuất hiện béo phì là thời kỳ nhũ nhi, 5 tuổi, 7 tuổi và vị thành niên (tuổi tiền dậy thì và dậy thì). Béo phì ở các thời kỳ này làm tăng nguy cơ của béo phì trường diễn và các biến chứng khác [30]. Phân loại béo phì theo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu: - Béo bụng (béo trung tâm, béo phần trên, béo hình quả táo, béo kiểu đàn ông - thể Android): Là dạng béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng.
- Béo đùi (béo ngoại vi, béo phần thấp, béo hình quả lê, béo kiểu đàn bà- thể Gynoid): Là loại béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng mông và đùi. Phân loại này giúp dự đoán nguy cơ sức khỏe của béo phì. Béo bụng có nguy cơ cao mắc và tử vong do các bệnh tim mạch, đái tháo đường, tăng Insulin máu, rối loạn Lipid máu, không dung nạp Glucose hơn so với béo đùi [16]. Một số phân loại béo phì khác: - Béo phì do sử dụng thuốc: Sử dụng corticoid liều cao và kéo dài, dùng estrogen, deparkin có thể gây béo phì.
5 Khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ đa khoa Niên khóa: 2015 – 2021 - Béo có khối nạc tăng so với chiều cao và tuổi: Trẻ béo phì có khối nạc tăng so với tuổi thường có chiều cao cao hơn chiều cao trung bình, thường là trẻ béo phì từ nhỏ, dạng này đặc trưng cho đa số béo phì ở trẻ em. - Trẻ thừa cân và thừa mỡ, thừa mỡ nhưng không thừa cân (rất ít trẻ thuộc nhóm này) và thừa cân nhưng không thừa mỡ [44], [45]. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG THỪA CÂN BÉO PHÌ Ở TRẺ EM 1. Đánh giá thừa cân, béo phì bằng chỉ số nhân trắc 1.
Định nghĩa nhân trắc học dinh dưỡng Nhân trắc học dinh dưỡng là đo các kích thước và cấu trúc cơ thể để đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Đó là kết quả tổng hợp của các yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài, trong đó yếu tố dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng. Cân nặng/Chiều cao Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cần sử dụng phương pháp nhân trắc học, cụ thể là đo các kích thước cơ thể và cấu trúc của cơ thể [2]. Từ năm 1981, WHO đã khuyến nghị sử dụng các chỉ tiêu cân nặng theo tuổi (WAZ), chiều cao theo tuổi (HAZ), cân nặng theo chiều cao (WHZ) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng.
TC, BP được ghi nhận khi WHZ cao hơn 2 độ lệch chuẩn (>2SD) so với quần thể tham chiếu NCHS (National Center for Health Statistics) của Hoa Kỳ [2]. Công thức tính SD score hay Z- score được tính như sau: Kích thước đo được – Số trung bình của quần thể tham chiếu Z-score = --------------------------------------------------------------------------------- Độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu Sau hai thập kỷ áp dụng, một số nhược điểm của quần thể NCHS bộc lộ như được xây dựng trên quần thể trẻ em Hoa Kỳ, đa số trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ mà được nuôi bằng sữa công thức, do vậy cân nặng có phần cao hơn, chiều cao có phần thấp hơn so trẻ bú sữa mẹ. Do vậy, năm 2006 và năm 2007, WHO đưa ra một chuẩn tăng trưởng 6 Khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ đa khoa Niên khóa: 2015 – 2021 mới gọi là chuẩn tăng trưởng của WHO. Cho tới nay, đây là thang phân loại được chấp nhận rộng rãi nhất trên thế giới, Việt Nam cũng đang sử dụng thang phân loại này.
WHO đề nghị lấy điểm ngưỡng Z-Score Cân nặng/ chiều cao >+2SD so với chuẩn tăng trưởng để coi là thừa cân với trẻ dưới 5 tuổi [55] và Z-Score BMI theo tuổi >+1SD được coi là thừa cân với trẻ lớn hơn 5 tuổi [62]. Đánh giá thừa cân, béo phì bằng chỉ số khố cơ thể - Body Mass Index (BMI). BMI được tính bằng cân nặng/chiều cao2 (kg/m2). BMI được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán TC, BP vì tính đơn giản trong kỹ thuật cân đo.
Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế là: khối lượng cơ thể chủ yếu được tạo thành từ khối mỡ, khối nạc và khối xương; BMI (với cân nặng cơ thể trong tử số) không thể phân biệt giữa các thành phần này, do đó có thể dẫn đến những sai số trong chẩn đoán béo phì [55]. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy: ở trẻ em, có mối tương quan chặt giữa tỷ lệ mỡ cơ thể và BMI với hệ số tương quan r = 0,7 – 0,8 [42]. Ở trẻ em, BMI thay đổi theo tuổi và giới, cụ thể: BMI gia tăng nhanh ở tuổi sơ sinh, giảm xuống ở tuổi tiền học đường rồi tăng trở lại suốt thời kỳ thiếu niên và giai đoạn đầu tuổi trưởng thành; BMI ở trẻ nam thường cao hơn trẻ nữ. Chính vì lý do này mà việc sử dụng chỉ số BMI để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em phụ thuộc vào lứa tuổi và giới tính.
Năm 2007, WHO đã công bố tiêu chuẩn đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo BMI ở trẻ em từ 5 đến 19 tuổi, bổ sung cho tiêu chuẩn năm 2006 dành cho trẻ từ 0 đến 5 tuổi. Với trẻ dưới 5 tuổi thì Zscore cân nặng/tuổi lớn hơn +2SD được phân loại là thừa cân, lớn hơn +3SD được phân loại là béo phì. Với trẻ lớn hơn 5 tuổi thì dựa trên chỉ số Z- score BMI/tuổi lớn hơn +1SD được phân loại là thừa cân và lớn hơn +2SD được phân loại là béo phì [55], [62]. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng lâm sàng và hóa sinh Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, các xét nghiệm sinh hoá cần bổ sung cho khám lâm sàng và đo chỉ số phát triển.
Các xét nghiệm sinh hoá thường tiến hành sau khi đã khám lâm sàng. Các xét nghiệm thông dụng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng nói chung và đánh giá TC, BP nói riêng bao gồm: Protein huyết thanh; Albumin huyết thanh; Retinol-binding protein huyết thanh (RBP); Thyroxin-binding pre-Albumin (TBPA); 7 Khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ đa khoa Niên khóa: 2015 – 2021 Hemoglobin (Hb); Kẽm huyết thanh; Vitamin A huyết thanh. Ngoài ra các bác sĩ lâm sàng có thể chỉ định các xét nghiệm các bệnh về đường huyết, các xét nghiệm rối loạn mỡ máu (cholesterol, triglycerid, HDL-C) [2]. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng khẩu phần ăn 1.
Khẩu phần ăn 24h Phương pháp hỏi ghi 24 giờ thường hay sử dụng trong điều tra đánh giá dinh dưỡng. Phương pháp này dễ làm, không tốn kém và nhanh. Phương pháp điều tra khẩu phần ăn 24h, sẽ theo dõi, hoặc ghi chép tỉ mỉ lại những gì đối tượng nghiên cứu đã sử dụng trong vòng 24 trước khi phỏng vấn. Phương pháp này cần sử dụng kèm theo là những thang đo và công cụ để hỗ trợ điều tra và cũng giúp cho đối tượng được điều tra dễ trả lời hơn, và người phân tích dễ dàng quy đổi ra các đơn vị dinh dưỡng [58].
Tần suất tiêu thụ lương thực thực phẩm Phương pháp đánh giá thông qua điều tra tiêu thụ lương thực thực phẩm được sử dụng để thu thập các thông tin về chất lượng khẩu phần, tìm hiểu tính thường xuyên của các loại thực phẩm trong thời gian nghiên cứu, số bữa ăn, khoảng cách giữa các bữa ăn và sau giờ ăn. Tần suất tiêu thụ một thực phẩm nào đó trước hết phản ánh sự có mặt của một chất hay một nhóm chất dinh dưỡng tương ứng có mặt trong khẩu phần ăn. Kết quả phương pháp này cho biết: những loại thức ăn phổ biến nhất, những thức ăn có số lần sử dụng cao nhất và cả những dao động theo mùa. Có thể lượng hóa một phần khẩu phần của đối tượng qua đó có thể dự báo thiếu những chất dinh dưỡng quan trọng như protein, lipid, vitamin A, sắt.