Chương 1 trình bày tổng quan về đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Đầu tiên, nêu rõ lý do chọn đề tài từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu. Sau đó, đưa ra phương pháp nghiên cứu phù hợp với đề tài. Cuối cùng, trình bày kết cấu đề tài theo từng chương.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Các khái niệm chung 2. Khái niệm về Khởi nghiệp kinh doanh Khởi nghiệp kinh doanh: là tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn đổi mới và chấp nhận rủi ro trong thái độ làm việc được đề cao nhằm để doanh nghiệp hiện tại tạo ra giá trị mới (Bird, 1988), hoặc là việc một cá nhân nắm bắt được cơ hội kinh doanh mới (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2015). Khởi nghiệp (tiếng Anh: Startup) là thuật ngữ chỉ về những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung (Startup company), hay có thể hiểu là các công ty công nghệ đang trong giai đoạn lập nghiệp.
Khái niệm Ý định khởi nghiệp Ý định được xem là yếu tố tác động đến mức độ thực hiện hành vi, nó chỉ ra mức độ một cá nhân sẵn sàng thử và nỗ lực thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Theo Krueger (1993), ý định là yếu tố tiêu biểu trong việc thể hiện mức độ một hành vi có được thực hiện trong tương lai hay không. Ý định khởi nghiệp được định nghĩa khác nhau từ nhiều tác giả khác nhau. Khi một cá nhân có nhận thức về hành động khởi nghiệp một cách tích cực, có suy nghĩ và ý định về hành động đó thì hành động khởi nghiệp sẽ diễn ra.
Một ý định kiên quyết là tiền đề dẫn tới nỗ lực để bắt đầu khởi sự với công việc kinh doanh (Shapero và Sokol, 1992). Theo Bird (1998), ý định khởi nghiệp là khi một cá nhân chú trọng đến việc hình thành, thiết lập hình thức hoạt động kinh doanh. Những người có ý định khởi nghiệp kinh doanh là những người đi đầu trong việc nắm bắt các cơ hội kinh doanh hấp dẫn mà họ nhận biết được. Ý định là trạng thái nhận thức ngay trước khi một hành vi được thực hiện (Krueger, 2003).
Còn Souitaris và cộng sự. (2007) thì định nghĩa rằng ý định khởi nghiệp là sự liên quan đến ý nghĩ quyết định để bắt đầu một công việc kinh doanh của một cá nhân. Theo Kuckertz và Wagner (2010), ý định khởi nghiệp của một cá nhân xuất phát từ việc họ nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực sẵn có và sự thuận lợi của môi trường để xây dựng doanh nghiệp của riêng mình. Theo Fayolle (2013), để tạo mới một doanh nghiệp thì ý định khởi nghiệp chính là động lực để thiết 7 lập kế hoạch hành động.
Nói một cách đơn giản, ý định khởi nghiệp có thể xem là dự định và hoạt động khởi sự kinh doanh của một cá nhân bằng việc tạo lập cho mình một doanh nghiệp trong tương lai. Mối quan hệ giữa giáo dục và ý định khởi nghiệp Hiện nay, việc đưa các môn học về tinh thần khởi nghiệp đang dần được các trường đại học trên thế giới cũng như trong nước đặc biệt quan tâm. Các nghiên cứu của (Noth, 2002; Garba, 2010) đã chỉ ra rằng giáo dục tinh thần doanh nhân đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, giúp cho sinh viên phát triển nghề nghiệp và góp phần tạo ra các doanh nhân thành đạt. Bên cạnh đó, Brice (2004) với mẫu nghiên cứu 351 sinh viên Quản trị kinh doanh ở bậc Đại học, cao học, nghiên cứu sinh trường Veterinary Medicine và Large đông nam Hoa Kỳ và phát hiện ra rằng ý định khởi nghiệp tăng dần theo cấp độ học vấn.
Mẫu nghiên cứu 255 học viên cao học Quản trị kinh doanh thuộc một số trường ở Hyderabad, Ấn độ (Gadam, 2008) đã có những phát hiện rằng cảm nhận về môi trường giáo dục đại học ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp. Tại môi trường đại học, sinh viên được cung cấp kiến thức về chuyên môn ngành học của mình, từ đó thúc đẩy ý định khởi nghiệp và đưa ra những ý tưởng, những bước đi đúng đắn cho sinh viên. Các lý thuyết nghiên cứu Hai lý thuyết chính được dựa vào trong bài nghiên cứu là thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991) và lý thuyết sự kiện khởi nghiệp kinh doanh (The Entrepreneurial Event – SEE) của Shapero và Sokol (1982). Thuyết hành vi dự định (TPB) Thuyết hành vi dự định (TPB) của Aijen (1991) được xây dựng và phát triển trên cơ sở của thuyết hành động hợp lý (TRA; Aijen và Fishbein, 1975).
Tác giả cho rằng ba nhân tố thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi sẽ tác động đến ý định thực hiện hành vi. 8 Thái độ đối với hành vi Tiêu chuẩn chủ Ý định hành vi Hành vi quan Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.1: Mô hình thuyết hành vi dự định (TPB) Nguồn: Ajzen, 1991. - Thái độ đối với hành vi: thể hiện cảm giác tích cực hay tiêu cực của mỗi cá nhân về vấn đề khởi nghiệp. Cảm giác này bị tác động bởi các yếu tố tâm lý và môi trường xung quanh cá nhân đó.
- Tiêu chuẩn chủ quan: là yếu tố đo lường sự tác động của xã hội lên hành vi thực hiện ý định khởi nghiệp của một cá nhân. - Nhận thức kiểm soát hành vi: cảm nhận của một cá nhân về mức độ khó hay dễ để thực hiện hành vi. Theo Ajzen (1991), nhân tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp lên xu hướng thực hiện hành vi, nếu cá nhân cảm thấy cảm nhận của mình là chính xác thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi. Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (SEE) Shapero và Sokol (1982) đã có một mô hình nghiên cứu có tính hữu dụng khá cao và được áp dụng thường xuyên trong các nghiên cứu về khởi nghiệp.
Lý thuyết này cho ra kết quả rằng các yếu tố hoàn cảnh cá nhân và thái độ của cá nhân đó đối với việc khởi nghiệp sẽ ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn tạo lập một doanh nghiệp của riêng họ. Nhập cư Thay đổi trong Cảm nhận về công việc mong muốn Nhân tố đẩy tiêu cực Bất mãn trong công việc Cảm nhận về Sự kiện tính khả thi khởi nghiệp Không phù hợp Yếu tố hoàn cảnh Có nguồn tài trợ tài chính Có khách hàng Nhân tố đẩy tích cực Được đề nghị hợp tác với bạn bè, đồng nghiệp Hình 2. Thuyết sự kiện khởi nghiệp - SEE Nguồn: Shapero và Sokol, 1982. 10 Các mô hình lý thuyết về ý định khởi nghiệp đã được các tác giả nghiên cứu phát triển và cho ra các phương pháp tiếp cận có độ tin cậy cao.
Các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp đang được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về hành vi khởi nghiệp. Các mô hình ý định đều cho rằng sự kết hợp của ba nhân tố: cá nhân, môi trường và nguồn lực để giải thích các nguyên nhân dẫn đến ý định khởi nghiệp. Vì vậy, trong nghiên cứu này, dựa trên lý thuyết về dự định khởi nghiệp để làm cơ sở lý luận cho các khái niệm về ý định khởi nghiệp. Các mô hình nghiên cứu trước liên quan về ý định khởi nghiệp 2.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Mô hình nghiên cứu của Shapero và Sokol (1982). Nghiên cứu này chỉ ra rằng hành vi bắt đầu khởi nghiệp phụ thuộc vào 3 yếu tố: cảm nhận sự khác khao, xu hướng hành động và cảm nhận tính khả thi. Cảm nhận sự khát khao Ý định khởi nghiệp Xu hướng hành động Cảm nhận tính khả thi Hình 2. Mô hình các yếu tố ảnh hưởng ý định khởi nghiệp Nguồn: Shapero và Sokol, 1982.
Shapero và Sokol (1982) cho rằng cảm nhận sự khát khao và cảm nhận tính khả thi sẽ giúp cá nhân xem xét ý định khởi nghiệp cũng như hành vi khởi nghiệp có đi đến việc thực hiện hay không. Các yếu tố này có thể thúc đẩy cá nhân tiến đến ý định khởi nghiệp. Mô hình nghiên cứu của Krueger và Brazeal (1994). Nghiên cứu này chỉ ra, trước khi khởi sự một doanh nghiệp thì cần phải có các kỹ năng trong kinh doanh.
Mô hình này đưa 11 ra sự ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về môi trường tới quyết định thành lập doanh nghiệp. Ba yếu tố tác động đến quyết định này là: sự khát khao, tính khả thi, xu hướng hành động. Sự khát khao Ý định khởi nghiệp Tính khả thi Xu hướng hành động Hình 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của Krueger và Brazeal (1994) Nguồn: Krueger và Brazeal, 1994. Nghiên cứu của Luthje và Franke (2004).
Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại Canada dựa trên thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991). Nghiên cứu cho ra kết quả rằng hai nhân tố: đặc điểm cá nhân và môi trường bên ngoài (môi trường giáo dục, tài chính, xã hội) tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Đặc biệt, nghiên cứu cho rằng yếu tố môi trường giáo dục ảnh hưởng trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Đặc điểm cá nhân Thị trường Ý định khởi nghiệp của sinh viên Tài chính Môi trường giáo dục Hình 2.
Mô hình ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại Canada Nguồn: Luthje và Franke, 2004. Mô hình của Mat và cộng sự (2015). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật tại trường Đại học Kuala Lumpur, Malaysia. Kết quả 12 nghiên cứu cho thấy có 04 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp là: nhận thức kiểm soát hành vi, nhu cầu thành đạt, chuẩn chủ quan, hỗ trợ khởi nghiệp.
Nhận thức kiểm soát hành vi Nhu cầu thành đạt Ý định khởi nghiệp của sinh viên Chuẩn chủ quan Hỗ trợ khởi nghiệp Hình 2. Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật tại trường Đại học Kuala Lumpur Nguồn: Mat và cộng sự, 2015. Các nghiên cứu tại Việt Nam Nghiên cứu của Phạm Thành Công (2010) đưa ra kết quả rằng các yếu tố nhu cầu thành đạt, khả năng am hiểu thị trường, định hướng xã hội, tính chịu đựng nhẫn nại có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp. Yếu tố khả năng am hiểu thị trường và định hướng xã hội có ảnh hưởng lớn nhất đến ý định khởi nghiệp.
Nghiên cứu đã khẳng định rằng tính cách và kỹ năng của cá nhân góp phần không nhỏ trong việc kích thích ý định khởi nghiệp.