CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả nêu lý do chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài, đồng thời xác định các mục tiêu nghiên cứu để làm cơ sở cho câu hỏi nghiên cứu. Qua đó, hình thành các giả thuyết nghiên cứu để xác định các yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường đại học Công Nghiệp TP. Đồng thời nhận diện đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của đề tài được nêu trong chương này để làm mục tiêu hướng đến của nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
Tổng quan lý thuyết 2. Ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là cam kết để bắt đầu một doanh nghiệp mới (Krueger 1993) và trong hầu hết các mô hình lựa chọn nghề nghiệp, nó được coi là tiền đề của hành vi khởi nghiệp. Theo Thompson (2009) và Bird (1988) ý định khởi nghiệp có thể được gọi là việc thực hiện có chủ ý và niềm tin của một cá nhân đối với ý định của mình để bắt đầu một doanh nghiệp kinh doanh mới trong tương lai. Ý định khởi nghiệp là việc làm cho quá trình tổ chức các dự án trở nên ấn tượng hoặc nói cách khác là tự làm chủ (Tkachev và Kolvereid, 1999).
Ý định khởi nghiệp sẽ là bước đầu tiên trong sự phát triển kinh doanh và đôi khi là quá trình lâu dài của sự sáng tạo liều lĩnh và mạo hiểm (Lee & Wong, 2004). Ý định khởi nghiệp để khởi động, sau đó sẽ là tiền đề cần thiết để thực hiện các hành vi kinh doanh (Fayolle và cộng sự, 2006; Kolvereid, 1996b). Khởi nghiệp Khởi nghiệp được xác định rõ là hành vi quản lý, khai thác đáng tin cậy các cơ hội để tạo kết quả vượt ra ngoài khả năng của chính mình (Kristiansen và Indarti, 2004). Theo nghĩa thông thường, khởi nghiệp là từ dùng để chỉ việc ấp ủ, lên ý tưởng cho một công việc kinh doanh riêng và từng bước thực hiện nó.
Nói đến khởi nghiệp, còn là việc một cá nhân sẽ thành lập một doanh nghiệp riêng của họ, đồng thời là người sáng lập, người đứng đầu và quản lý mọi công việc lớn nhỏ hoặc đồng sáng lập. Một người khởi nghiệp tiềm năng là người đón lấy cơ hội để thành lập công ty riêng mình ngay khi cơ hội xuất hiện (Shapero, 1982). Theo tổ chức Global Entrepreneurship Monitor thì một doanh nghiệp khi vừa thành lập sẽ trải qua 3 giai đoạn: Hình thành, phát triển ý tưởng đến thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là duy trì và phát triển doanh nghiệp. Doanh nhân Doanh nhân được định nghĩa là "Người làm nghề kinh doanh"; đồng thời còn có từ Doanh gia, được định nghĩa là "nhà doanh nghiệp, nhà kinh doanh, có tiếng tăm" ( theo Từ điển Việt xuất bản tháng 4/2007 trang 218).
Doanh nhân được xem là một nhan tố quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác, tạo cơ hội việc làm và tạo ra sự giàu có về kinh tế và xã hội trong nền kinh tế của một quốc gia (Wong và cộng sự, 2005). Theo (Krueger và cộng sự, 2000), doanh nhân là những người sáng tạo, đột phá, có tầm nhìn, người nhận ra một cơ hội mới, có khuynh hướng hành động và bắt đầu một việc gì đó. Theo nghĩa thông thường, doanh nhân được coi là chủ sở hữa một doanh nghiệp. Những người này tiếp nhận những rủi ro vừa phải và các rủi ro được tính toán để tránh những tình huống không chắc chắn.
Các doanh nhân phát triển và thịnh vượng dần dần bằng cách bắt đầu kinh doanh nhỏ. Trong nghiên cứu này, doanh nhân được đề cập đóng vai trò như một người chịu trách nhiệm về việc thành lập, quản lý và phát triển doanh nghiệp. Tinh thần khởi nghiệp Tinh thần khởi nghiệp được định nghĩa là việc sở hữu doanh nghiệp nhỏ độc lập hoặc phát triển những nhà quản lý tìm kiếm cơ hội trong doanh nghiệp (Colton,1990). Tinh thần khởi nghiệp được định nghĩa có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của một quốc gia (Stel và cộng sự, 2005).
Tinh thần khởi nghiệp được định nghĩa bởi Low và MacMillan (1988, trang 141) là "tạo ra doanh nghiệp mới". Định nghĩa này phản ánh nhận thức ngày càng tăng rằng tinh thần khởi nghiệp là một "quy trình hoàn thiện dần dần hơn là trạng thái hiện hữu"(Bygrave, 1989, trang 21) 8 2. Các lý thuyết, học thuyết liên quan 2. Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp kinh doanh Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp kinh doanh (Shapero và Sokol 1982) được sử dụng để mô tả một quy trình khởi nghiệp, với ý định là trung tâm (Bird 1988).
Lý thuyết này xem xét khởi nghiệp như một sự kiện có thể được giải thích bằng sự tương tác giữa sáng kiến, khả năng, quản lý, quyền tự chủ tương đối và sự chấp nhận rủi ro. Lý thuyết chỉ ra rằng ý định khởi nghiệp bắt nguồn từ nhận thức về tính khả thi và sự mong muốn, và chịu ảnh hưởng bởi bối cảnh văn hoá và xã hội. Nhận thức về sự lựa chọn của cá nhân trong môi trường văn hoá và xã hội được Krueger và cộng sự chấp nhận theo kinh nghiệm. Theo giả định, hành vi của con người có một quán tính có thể bị gián đoạn hoặc thay thế bởi một thứ gì đó, Shapero lập luận rằng tính mong muốn và tính khả thi dựa trên xác định độ tin cậy tương đối của các hành vi thay thế và ý định khởi nghiệp phát sinh một phần từ việc tiếp xúc với hoạt động kinh doanh (Shapero và Sokol 1982).
Lý thuyết hành vi được lên kế hoạch - TPB (Theory of Planned Behavior) Lý thuyết hành vi được lên kế hoạch được giới thiệu bởi Ajzen (1991) đại diện cho một lý thuyết chung về hành vi xã hội, được phát triển rộng hơn từ lý thuyết tâm lý xã hội. Thuyết được xây dựng để dự đoán và giải thích hành vi của con người trong các ngữ cảnh cụ thể. Thuyết TPB khẳng định thái độ và đặc điểm nhân cách chỉ có thể có tác động gián tiếp đến các hình thức hành vi cụ thể bằng cách ảnh hưởng đến các yếu tố gần gũi hơn với hành động được đề cập (Ajzen, 1991). Bao gồm 5 yếu tố: thái độ đối với hành vi, các tiêu chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi nhận thức, ý định cư xử và hành vi.
Nguyên lý cơ bản của lý thuyết này là ý định của một cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định là yếu tố tiên đoán chính của hành vi đó. Ý định đưa ra các chỉ dẫn về hành động. TPB đưa ra các giả thuyết rằng các ý định hành vi được xác định bởi 3 tiền đề chính: thái độ đối với hành vi, các chỉ tiêu chủ quan và mức độ kiểm soát hành vi nhận thức. Đầu tiên là thái độ đối với hành vi, đề cập đến mức độ mà một người có một đánh giá thuận lợi hoặc không thuậ lợi về hành vi.
9 Thứ hai đề cập đến các chỉ tiêu chủ quan, được định nghĩa là sự chấp thuận (hoặc không chấp thuận) của các cá nhân tham khảo quan trọng (hoặc nhóm) như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp có liên quan đến việc đưa ra một hành vi cụ thể. Thứ ba là mức độ kiểm soát hành vi nhận thức được coi là niềm tin của con người liên quan đến việc thực hiện hành vi sẽ dễ dàng hay khó khăn như thế nào. Lý thuyết hành động hợp lý - TRA Theo lý thuyết hành động hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1980), ý định của một người là một chức năng của hai yếu tố quyết định cơ bản: Một là yếu tố cá nhân là việc đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân về việc thực hiện hành vi. Yếu tố này được gọi là thái độ đối với hành vi (Ajzen và Fishbein, 1980).
Hai là các ảnh hưởng khác từ phía xã hội. Yếu tố này là nhận thức của một người về áp lực xã hội đặt vào người đó để thực hiện hay không thực hiện hành vi được đề cập và được gọi là tiêu chuẩn chủ quan (Ajzen và Fishbein, 1980). Các đề tài nghiên cứu khoa học tham khảo 2. Phạm Thị Quế Phương (2018), " Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường Đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh" Nghiên cứu được thực hiện thông qua thảo luận với nhóm sinh viên đến từ các trường đại học trong khu vực TP.HCM và kết hợp nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện thông qua khảo sát trực tiếp mẫu gồm 98 mẫu sinh viên của 05 trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Đại học Kinh tế, đại học Tài chính - Marketing, đại học Bách Khoa, đại học Công Nghệ và đại học Mở.
Các nhân tố độc lập của mô hình bao gồm " Sự chủ động cá nhân", "Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp", "Tiêu chuẩn chủ quan", "Sự kiểm soát hành vi được nhận thức", "Các biến nhân khẩu học". Bằng các phép kiểm định, hồi quy, tác giả nhận thấy thái độ đối với hành vi khởi nghiệp có tác động cùng chiều mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp, tiếp đến là sự kiểm soát hành vi được nhận thức và cuối cùng là tiêu chuẩn chủ quan có tác động cùng chiều nhưng thấp nhất đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả hồi quy cũng cho thấy yếu tố "Sự chủ động cá nhân" không có mối quan hệ với ý định khởi nghiệp nên bị loại ra khỏi mô hình nghiên 10 cứu. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy sinh viên nam có ý định khởi nghiệp cao hơn sinh viên nữ.
Bên cạnh đó, cũng có sự khác biệt giữa nhóm chuyên ngành đào tạo, trường đào tạo. Ngoài ra, sinh viên xuất xuất thân từ gia đình có truyền thống kinh doanh sẽ có ý định khởi nghiệp cao hơn sinh viên mà gia đình không theo truyền thống kinh doanh. Không có sự khác biệt giữa nhóm độ tuổi và hộ khẩu thường trú của sinh viên về ý định khởi nghiệp. Sự chủ động cá nhân - Giới tính - Trường đào tạo - Ngành đào tạo Thái độ đối với hành - Truyền thống kinh H1 doanh của gia đình vi khởi nghiệp - Độ tuổi - Hộ khẩu thường trú H2 Tiêu chuẩn chủ quan H3 H5 Sự kiểm soát hành vi 1 được nhận thức H4 Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP SƠ ĐỒ 2.
1– Mô hình nghiên cứu của Phạm Thị Quế Phương (Nguồn: Phạm Thị Quế Phương “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường Đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”) 2.