CHƯƠNG 1: Đưa ra một số khái niệm của tác giả về ý định khởi nghiệp của sinh viên, sau đó đưa ra lý thuyết nền, lựa chọn ra một mô hình nghiên cứu và dựa vào đó lập luận mối quan hệ giữa các yếu tố đến ý định khởi nghiệp. CHƯƠNG 2: Giới thiệu chung về ngành nhà hàng -khách sạn, chạy số liệu và sau đó phân tích, đánh giá về thực trạng về các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp. Từ đó, điều chỉnh lại mô hình nghiên cứu. CHƯƠNG 3: Trình bày khái quát về mục tiêu và định hướng phát triển của ý định khởi nghiệp ngành nhà hàng -khách sạn và từ đó đưa ra giải pháp nâng cao các yếu tố tác động đó.
KẾT LUẬN: Tổng hợp lại kiến thức đã trình bày ở cả 3 chương, từ đó đưa ra những hạn chế trong bài khoá luận này và đưa ra hướng giải quyết cho tương lai. Một số khái niệm 1. Khái niệm về kinh doanh nhà hàng -khách sạn Cùng với sự phát triển của xã hội, ngành nhà hàng -khách sạn đã không ngừng phát triển. Các nhà hàng -khách sạn không đơn thuần chỉ cung cấp dịch vụ lưu trú, ăn uống mà còn nhiều dịch vụ bổ sung như giải trí, thể thao, chăm sóc sắc đẹp… Nhà hàng -khách sạn là một bộ phận quan trọng trong ngành du lịch, nhu cầu ăn và ở của khách hàng không chỉ là cung cấp dịch vụ lưu trú hay cung cấp món ăn một cách đơn giản, mà qua đó còn giúp cho khách cảm thấy được nẻt văn hoá đặc trưng của nhà hàng -khách sạn đó.
Có nhiều định nghĩa về nhà hàng -khách sạn khác nhau: Trong tác phẩm “Managing Hotel Effectively” đã viết: “Khách sạn thực tế cũng giống như một thành phố thu nhỏ” và “Phần lớn những nhu cầu phục vụ con người ở ngoài xã hội cũng xảy ra y như thế trong khách sạn” (Nebel, 1991). Trong giáo trình này kinh doanh nhà hàng -khách sạn được định nghĩa: “kinh doanh nhà hàng khách sạn có hàng loạt các hình thức kinh doanh khác nhau nhưng trong cùng một lĩnh vực mỗi dạng hình thức cần có những kiến thức riêng của nó” (Nebel, 1991). Theo Trịnh Xuân Dũng (2003) thì “Nhà hàng -khách sạn là cơ sở phục vụ ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí cho khách du lịch và những người có khả năng thanh toán cao với những hoạt động và chức năng đa dạng”. Khái niệm này đã chỉ rõ sự khác biệt giữa nhà hàng -khách sạn với các quán bình dân, đó là nhắm đến đối tượng có khả năng thanh toán cao, do đó nhu cầu về chất lượng dịch vụ cao.
Nhưng khái niệm này thì không nhấn mạnh đến việc thu lợi nhuận mà chỉ nói đến việc phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi của khách. Vậy, có thể định nghĩa kinh doanh nhà hàng -khách sạn như sau: “Kinh doanh nhà hàng khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung khác trong những điều kiện về cơ sở vật chất và mức độ phục vụ nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng khi sử dụng dịch vụ”. Khái niệm khởi nghiệp Trong suốt lịch sử loài người, khởi nghiệp từ lâu đã gắn liền với tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội (Lent và cộng sự, 2002). Doanh nhân là tác nhân kinh tế mang đến những ý tưởng mới, giải pháp sáng tạo và cơ hội việc làm mới để giúp quay bánh xe nền kinh tế (Al-Awlaqi và cộng sự, 2021).
Tuy nhiên, sự không chắc chắn về tương lai kinh doanh, khủng hoảng chính trị và những thay đổi kinh tế toàn cầu kèm theo đã khiến nhiều người bị sốc. Sự cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức và tình trạng bất ổn kinh tế toàn cầu tiếp tục thúc đẩy các doanh nghiệp cắt giảm chi phí hoạt động và cơ cấu lại quy trình làm việc (Lüthje và Franke, 2003). Điều này cuối cùng dẫn đến việc sa thải nhân viên và gây thêm áp lực cho chính phủ vì không có việc làm và tỷ lệ thất nghiệp cao. Những hậu quả tiêu cực do sa thải nhân viên đòi hỏi phải phát triển các lựa chọn thay thế để thay thế việc làm được trả lương và cho phép tạo ra các cơ hội việc làm mới để cải thiện cuộc sống của cá nhân.
Một trong những lựa chọn thay thế này là phát triển tinh thần kinh doanh vào doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì chúng đóng góp đáng kể vào sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế bằng cách tăng cơ hội việc làm, giảm nghèo, tăng cường trao quyền cho cá nhân, tăng cường khả năng tự lực và hiệu quả ( Elnadi và Gheith, 2021). Mặc dù có niềm tin rằng tinh thần kinh doanh mang lại nhiều lợi ích cho các bên liên quan khác nhau trong xã hội, đặc biệt là giới trẻ, người ta tin rằng có nhiều thách thức đang hạn chế sự tăng trưởng và phát triển của nó. Những thách thức này có thể khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh hoạt động kinh doanh được thực hiện. Ví dụ, các mối quan hệ xã hội, môi trường văn hóa, sự phức tạp về hành chính, khả năng tiếp cận các nguồn lực, điều kiện kinh tế, thể chế và cơ sở hạ tầng sẵn có có thể khuyến khích hoặc ngăn cản đáng kể sự phát triển tinh thần kinh doanh giữa các cá nhân, đặc biệt là ý định kinh doanh và hành vi (Gurbuz và Aykol, 2008).
Điều này có nghĩa là các xã hội có tình hình kinh tế ổn định, văn hóa hỗ trợ, cơ sở hạ tầng phát triển và các thể chế và luật pháp chính thức và phi chính thức khuyến khích mọi người có thể khuyến khích mọi người khởi nghiệp kinh doanh. Trong khi đó, các quốc gia có sự phức tạp về hành chính quá mức, khả năng tiếp cận thông tin kinh doanh và vốn hạn chế là những rào cản đối với việc thành lập doanh nghiệp (Akanbi và Ofoegbu, 2011). Khởi nghiệp là tiền đề cho sự phát triển của xã hội tư bản vì có các doanh nghiệp kinh doanh thì mới thúc đẩy tăng trưởng về kinh tế và tạo ra việc làm. Trong các nước xã hội tư bản chủ nghĩa, tăng trưởng kinh tế liên tục phụ thuộc vào mức độ mà các nhà 10 khởi nghiệp tiềm năng có được và sử dụng hiệu quả vào các nguồn lực kinh tế và xã hội mà họ cần.
Các quan điểm về khởi nghiệp luôn khác nhau và định nghĩa khởi nghiệp cũng không là duy nhất. Định nghĩa khởi nghiệp là việc cá nhân chấp nhận rủi ro để tạo lập ra doanh nghiệp mới kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận và làm giàu (MacMillan, 1993). Nhưng với Hisrich và Drovesel (2020) lại cho rằng khởi nghiệp là quá trình tạo ra cái gì mới bằng cách dành thời gian và nỗ lực để đạt được sự độc lập về tài chính, mặc dù sẽ có những rủi ro về tài chính, tâm linh và xã hội kèm. Ở mặt khác, khởi nghiệp là sự theo đuổi các cơ hội làm giàu thông qua các ý tưởng mới của cá nhân (Nga và Shamuganathan, 2010).
Trong nghiên cứu này, khởi nghiệp sẽ được hiểu là sự tạo ra một công việc kinh doanh mới thông qua những ý tưởng sáng tạo, nhận diện và tận dụng các cơ hội để có được sự hài lòng trong kinh doanh của chính mình (Koe và cộng sự, 2012). Quan điểm này dễ hiểu và bao quát được các quan điểm về khởi nghiệp trước đó. Khái niệm ý định khởi nghiệp Quan niệm ý định khởi nghiệp của một cá nhân là nắm bắt trạng thái tâm trí hướng tới sự tập trung của các cá nhân để đạt được một hoạt động kinh doanh mới hay tạo dựng một doanh nghiệp mới (Bird, 1988). Ý định khởi nghiệp cũng được định nghĩa là ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp (Souitaris và cộng sự, 2007).
Có người lại cho rằng ý định khởi nghiệp thường liên quan đến nội tâm, hoài bão và cảm giác của cá nhân đối với việc “đứng trên đôi chân của mình” (Zain và cộng sự, 2010). Ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là sự liên quan ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp (Souitaris, 2007) là một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp (Gupta và Bhawe, 2007). Ý định khởi nghiệp của một cá nhân bắt nguồn từ việc họ nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình (Kuckertz và cộng sự, 2010). Ý định khởi nghiệp của sinh viên xuất phát từ các ý tưởng của sinh viên và được định hướng đúng đắn từ chương trình giáo dục và những người đào tạo (Schwarz và cộng sự, 2009).
Nghiên cứu của Dohse và cộng sự (2012) đã đưa ra một khái niệm súc tích và gần gũi hơn so với các nghiên cứu trước về ý định khởi nghiệp, trong đó ý định khởi 11 nghiệp là trạng thái của tâm trí trong việc sẵn sàng thực hiện tự kinh doanh, tự tạo việc làm hoặc thành lập doanh nghiệp mới. Ý định khởi nghiệp trong phạm vi nghiên cứu của bài nghiên cứu này cũng được hiểu theo quan điểm của trên. Khái lược về ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành nhà hàng -khách sạn 1. Tầm quan trọng của ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một hành trình mới trong hoạt động khởi nghiệp.
Nhiều người đã có những ý tưởng khởi nghiệp có triển vọng về việc khởi nghiệp của họ (Baskaran và cộng sự, 2020). Trong kinh doanh, ý định khởi nghiệp là sự quyết tâm của một doanh nhân mới bắt đầu vào việc kinh doanh của mình. Các nghiên cứu trước đây đã quan sát thấy rằng ý định khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán khả năng khởi nghiệp của doanh nghiệp (Shirokova và cộng sự, 2016). Một nghiên cứu trước đây đã đo lường được các biến số cá nhân và hoàn cảnh khác nhau ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần khởi nghiệp.
Ý định khởi nghiệp được công nhận thông qua các công ty khởi nghiệp (Wang và cộng sự, 2010). Khi các cá nhân nắm giữ các công ty khởi nghiệp, họ sẽ bị thu hút nhiều hơn bởi mong muốn và nỗ lực hướng tới mục tiêu cao hơn (Fayolle và Liñán, 2014). Điều quan trọng là phải kết hợp với việc nâng cao ý định khởi nghiệp với vai trò của hệ tư tưởng của đất nước và hành vi của người dân đối với các công ty khởi nghiệp (Fayolle và Liñán, 2014). Kiến thức về ý định khởi nghiệp đang được phát triển mạnh mẽ trong sinh viên đang học và sinh viên đã tốt nghiệp.