phần mở đầu, kết thúc, phụ lục và tại liệu tham khả. Nội dung đề tài đƣợc chia thành 5 chƣơng: Chƣơng 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài ―Nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trƣờng Đại học tại TP. Giới thiệu sơ lƣợc về đề tài: lý do chọn đề tài, mục tiêu đề tài, phạm vi, phƣơng pháp nghiên cứu và ý nghĩa đề tài. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận, mô hình ra quyết định và mô hình nghiên cứu.
Trình bày các lý thuyết, mô hình nghiên cứu lien quan đến đề tài từ những nghiên cứu của các tác giả đã thực hiện thời gian trƣớc. Từ đó đƣa ra mô hình nghiên cứu đề xuất cho đề tài nghiên cứu. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Giới thiệu tổng quan về quy trình nghiên cứu, thang đo, bảng câu hỏi và xử lý số liệu khảo sát sơ bộ từ đó đƣa ra mô hình nghiên cứu chính thức sau đó đƣa ra mô hình nghiên cứu chính thức sau khi sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha để kiếm chứng độ tin cậy của thang đó.
Chƣơng 4: Phân tích kết quả và thảo luận Trình bày các số lƣợc thu đƣợc sau quá trình khảo sát sơ chính đã xử lý bằng phần mềm SPSS. Đánh giá mức độ ảnh hƣởng, kết luận các yếu tố ảnh hƣởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trƣờng Đại học tại TP. Chƣơng 5: Trình bày kết quả và đƣa ra kiến nghị: Đƣa ra các giải pháp, hàm ý quản trị dựa theo kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Từ đó đƣa ra kết luận giải pháp tới các Trƣờng và lời khuyên dành cho sinh viên khóa sau.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm về người khởi nghiệp (Doanh nhân) Doanh nhân đƣợc xem là một nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác, tạo cơ hội việc làm và tạo sự giàu có về kinh tế xã hội trong nền kinh tế của một quốc gia (Wong & cộng sự, 2005). Doanh nhân đóng một vai trò rất quan trọng phát triển kinh tế bằng cách ấp ủ các dự định đổi mới về công nghệ, làm sao để tăng hiệu quả kinh tế và tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới (Shane & Venkataraman, 2003). Doanh nhân là những ngƣời sáng tạo, đột phá, có tầm nhìn, có suy nghĩ đột phá và có khuynh hƣớng hành động và làm một việc gì đó (Krueger & cộng sự, 2000). (Thomas & Mueller, 2000), doanh nhân là những ngƣời sẵn tiếp nhận rủi ro vừa phải và các rủi ro đã có dự tính để tránh những tình huống không chắc chắn xảy ra.
Doanh nhân xã hội là ngƣời đổi mới, hỗ trợ và xu hƣớng kết quả. Họ rút đƣợc các thông lệ tốt nhất từ cả giới kinh doanh và khu vực phi lợi nhuận để phát triển các chiến lƣợc tốt nhất để giúp tối đa hóa lợi nhuận của mình. Nhiều nhà nghiên cứu phân biệt doanh nhân và thƣơng nhân, nhƣng có nhiều ngƣời xác định hoạt động của cả thƣơng nhân và doanh nhân đều giống nhau, đều tìm kiếm lợi nhuận từ việc kinh doanh. Trong nghiên cứu này, doanh nhân là ngƣời sẽ chịu trách nhiệm về việc thành lập, quản lý và phát triển doanh nghiệp.2 Khái niệm về khởi nghiệp kinh doanh Khởi nghiệp kinh doanh là quá trình nhận biết và theo đuổi một cách tận tâm các cơ hội để tạo ra giá trị xã hội thông qua một mô hình kinh doanh cụ thể.
Khởi nghiệp đã xác định rõ hành vi quản lý, khai thác đáng tin cậy các cơ hội để tạo ra kết quả vƣợt ra ngoài khả năng của chính mình (Kristiansen & Indarti, 2004). Khởi nghiệp không phải là một sự kiện mà nó là một quá trình. Khởi nghiệp kinh doanh là việc một cá nhân (một mình hoặc cùng ngƣời khác) tận dụng cơ hội kinh doanh mới (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2015), hoặc là một thái độ làm việc đề cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra giá trị mới trong doanh nghiệp hiện tại ( (Bird, 1988). Khởi nghiệp tức là bạn đã ấp ủ một công việc kinh doanh riêng, thƣờng thì bạn sẽ thành lập một doanh nghiệp mà tại đó bạn là ngƣời quản lý, ngƣời sáng lập hoặc đồng sáng lập.
Theo tổ chức Global Entrepreneurship Monitor thì một doanh nghiệp khi thành lập cần phải trải qua 3 giai đoạn: Hình thành, phát triển ý tƣởng đến thành lập doanh nghiệp, cuối cùng là duy trì và phát triển doanh nghiệp.3 Khái niệm về ý định Khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp có thể đƣợc định nghĩa là sự liên quan ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp ( (Souitaris & cộng sự, 2007); là một quá trình định hƣớng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp (Gupta & Bhawe, 2007). Ý định khởi nghiệp của một cá nhân bắt nguồn từ việc họ nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trƣờng để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình (Kuckertz & Wagner, 2010). Ý định khởi nghiệp của sinh viên xuất phát từ các ý tƣởng của sinh viên và đƣợc định hƣớng đúng đắn từ chƣơng trình giáo dục và những ngƣời đào tạo (Schwarz & cộng sự, 2009). Theo (Krueger , Educational Administration Quarterly, 2003), ý định là trạng thái nhận thức ngay trƣớc khi thực hiện một hành vi.
Ý dịnh đại diện cho mức độ cam kết về hành vi sẽ thực hiện trong tƣơng lai (Krueger, 1993). Ý định thể hiện mức độ sẵn sàng của cá nhân và là tiền đề trực tiếp để thực hiện hành vi (Ajzen, 1991). Ý định khởi nghiệp là sự cam kết thành lập và làm chủ doanh nghiệp mới (Krueger, 1993); hay là sự khẳng định của cá nhân về dự định làm chủ doanh nghiệp mớ i và xây dựng kế hoạch hành động tại một thời điểm nhất định trong tƣơng lai (Thompson, 2009) hay đơn giản là động lực thiết lập kế hoạch hành động để tạo mới một doanh nghiệp (Fayolle, 2013). Ý định khởi nghiệp còn có thể đƣợc định nghĩa là sự liên quan đến suy nghĩ quyết định để bắt đầu một công việc kinh doanh của một cá nhân (Souitaris & cộng sự, 2007), là một quá trình định hƣớng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp (Gupta & Bhawe, 2007).
Tóm lại có thể nhận định rằng ý định khởii nghiệp là nhận thức về mức độ cam kết, sẵn sàng thành lập và làm chủ doanh nghiệp mới.4 Khái niệm về tinh thần khởi nghiệp Tinh thần khởi nghiệp còn đƣợc gọi là tinh thần doanh nhân khởi nghiệp hay tinh thần kinh doanh. Tinh thần doanh nhân khởi nghiệp đƣợc hiểu là hành động của doanh nhân khởi nghiệp – ngƣời tiến hành việc biến những cảm nhận nhạy bén về kinh doanh, tài chính và sự đổi mới thành những sản phẩm hàng hóa mang tính kinh tế (Peter, 2011). Tinh thần khởi nghiệp có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của một quốc gia (Stel & cộng sự, 2005).2 Các lý thuyết nghiên cứu liên quan đến đề tài 2.1 Lý thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behavior) (Ajzen, 1991) Thái độ Xu hƣớng Hành vi Chuẩn chủ quan hành vi thực sự Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.1 Thuyết hành vi dự định TPB Ba yếu tố quyết định cơ bản trong lý thuyết này, (1) yếu tố cá nhân là thái độ cá nhân đối với hành vi về việc tích cực hay tiêu cực của việc thực hiện hành vi, (2) về ý định nhận thức áp lực xã hội của ngƣời đó, vì nó đối phó với nhận thức của áp lực hay sự bắt buộc có tính quy tắc nên đƣợc gọi là chuẩn chủ quan, và (3) cuối cùng là yếu tố quyết định về sự tự nhận thức (self-efficacy) hoặc khả năng thực hiện hành vi, đƣợc gọi là kiểm soát nhận thức hành vi (Ajzen, 2005). Lý thuyết cho thấy tầm quan trọng của thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và kiểm soát nhận thức hành vi dẫn đến sự hình thành của một ý định hành vi.
Thái độ của cá nhân đối với hành vi - (perceived attitude): thể hiện mức độ đánh giá tiêu cực hoặc tích cực của cá nhân về việc KNKD. Đó không chỉ đơn giản là cảm nhận của riêng một cá nhân mà bao gồm cả việc cân nhắc đánh giá giá trị của KNKD đem lại. Ý kiến ngƣời xung quanh (social norm): đo lƣờng các áp lực của xã hội mà một cá nhân tự cảm nhận và phải cảm nhận đƣợc việc tiến hành hoặc không tiến hành các hành vi KNKD. Cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi (perceived behavior control) đƣợc định nghĩa là quan niệm của cá nhân về độ khó hoặc dễ trong hoàn thành các hành vi KNKD.2 Mô hình lý thuyết sự kiện khởi sự kinh doanh của Shapero và Sokol (1982) (The entrepreneurial event - SEE) Shapero và Sokol (1982) cho rằng việc KNKD thành lập một doanh nghiệp mới là một sự kiện bị tác động bởi những thay đổi trong đời sống của con ngƣời.
Theo nghiên cứu này, quyết định một cá nhân khi lựa chọn để thành lập một doanh nghiệp mới phụ thuộc vào những thay đổi quan trọng trong cuộc sống (displacement) của cá nhân đó và thái độ của cá nhân đó đối với việc KNKD (thể hiện bằng 2 khía cạnh cảm nhận của cá nhân về tính khả thi; cảm nhận của cá nhân về mong muốn KNKD). Cảm nhận về mong muốn KSKD thể hiện suy nghĩ của một cá nhân về tính hấp dẫn của KNKD. Đây là cảm nghĩ đƣợc hình thành từ văn hóa, gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và ngƣời thân. Cảm nhận về tính khả thi KNKD thể hiện suy nghĩ của cá nhân về khả năng thực hiện các hành vi tƣơng ứng.
Hỗ trợ tài chính, ảnh hƣởng của thần tƣợng doanh nhân, đối tác và sự hỗ trợ tƣ vấn của các thể chế trong quá trình thành lập và vận hành có thể tăng cảm nhận của cá nhân về tính khả thi. 10 Nhập cƣ Thay đổi trong công việc Cảm nhận về Nhân tố đầy mong muốn tích cực Bất mãn trong công việc Cảm nhận về Sự kiện khởi tính khả thi nghiệp Không phù hợp Yếu tố hoàn cảnh Có nguồn tài trợ chính Nhân tố đầy Có khách hàng tiêu cực Đƣợc đề nghị hợp tác bởi bạn bè, đồng nghiệp (Nguồn Shapero và Sokol, 1982) Hình 2.2 Thuyết sự kiện khởi nghiệp SEE 11 2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan 2.1 Nghiên cứu của của nhóm tác giả Raza, S.A, Qazi và Shah 2018 Nghiên cứu ―Các yếu tố ảnh hƣởng đến động lực và ý định trở thành doanh nhân giữa các sinh viên đại học Pakistan‖.