Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm 2. Ý định Khi tiến hành tra cứu thì Đại từ điển tiếng Việt thì ta có được giải nghĩa rằng: "Ý định bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân, các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân phải bỏ ra để thực hiện hành vi.
Ý định là ý muốn và những dự định về một việc gì đó" (Nguyễn Như Ý, 1999). Như thế, có thể hiểu rằng khi ta rắp tâm làm một chuyện gì đó thì nó chính là ý định và ý định thì lại gồm có hai thành tố: ý muốn và dự định. Điều này khác hẳn so với dự kiến hoặc dự định. Ý định là một ý muốn và mang tính chất chủ quan trong dự định của con người.
Ý định chọn nơi làm việc Từ những thập kỷ trước, việc tuyển dụng nhân sự và vấn đề chọn tổ chức làm việc đã nhận được sự quan tâm của nhiều nghiên cứu (Barber, 1998). Cùng với sự phát triển của các nghiên cứu, câu hỏi về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hấp dẫn của một tổ chức cũng ngày càng đặc biệt được quan tâm hơn. Mặt khác, nếu xét theo góc nhìn của thuyết kỳ vọng thì ta đưa ra được sự giải thích như sau: quyết định và lựa chọn của người tìm việc được đưa ra dựa trên cơ sở làm thế nào để sử dụng tốt nhất những nỗ lực của bản thân để không chỉ đáp ứng những nhu cầu trước mắt mà còn cả những mong đợi của họ về những ảnh hưởng đến nhu cầu tương lai và hành vi của họ. Nếu người tìm việc tin rằng một tổ chức sẽ làm tăng khả năng của họ đạt được kết quả có giá trị, họ sẽ sẵn sàng để theo đuổi việc làm với tổ chức đó.
Vì vậy, người tìm việc hình thành một mối quan tâm cho các đặc tính của tổ chức mà họ tin rằng những nỗ lực của họ sẽ đạt được các kết quả có giá trị (Gregory, 2010). Khá gần với khái niệm ý định chọn nơi làm việc, khái niệm về ý định theo đuổi công việc bao gồm những mong muốn của một người nộp đơn như tìm hiểu trang Web của công ty hoặc tham gia phỏng vấn, hoặc sẵn sàng đáp ứng các thủ tục nộp đơn mà không có sự cam kết về sự lựa chọn công việc (Rynes, 1991). 6 Còn theo một nghiên cứu của nhóm tác giả nước ngoài thì ý định chọn nơi làm việc là ý định của một ứng viên chấp nhận lời mời làm việc nếu tổ chức đưa ra lời đề nghị về một vị trí công việc (Chapman et al. Lý thuyết nền của đề tài 2.
Lý thuyết hành động hợp lý Lý thuyết về hành động hợp lý đã được thiết lập từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước – thế kỷ 20. Thuyết hành động hợp lý xác định rằng nhân tố quan trọng nhất quyết định đến hành vi của con người là ý định hoặc ý muốn thực hiện một hành vi nào đó. Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) – gọi tắt là TRA – xác định rằng có 02 yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi của con người, đó là: Thái độ của một cá nhân về hành động đó và Chuẩn chủ quan của cá thể liên quan đến hành động đó. Thái độ đối với hành vi Ý định Hành vi hành vi Chuẩn chủ quan Hình 2.
Mô hình Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) (Nguồn: Madden et al., 1992) Từ nền tảng lý thuyết trên, vận dụng vào nghiên cứu này, để thu hút các bạn sinh viên năm cuối sau khi tốt nghiệp có ý định chọn một doanh nghiệp làm nơi làm việc thì công ty đó cần có những chính sách tạo ra sự hấp dẫn nhằm tăng thái độ tích cực của người tìm việc đối với công ty. 7 Như vậy, theo mô hình lý thuyết TRA thì ý định của một sinh viên năm cuối sẽ có tác động đến quyết định của họ khi chọn một doanh nghiệp làm nơi làm việc sau khi tốt nghiệp. Nhưng ý định này sẽ bị ảnh hưởng bởi chuẩn chủ quan cũng như thái độ của họ nếu các bạn sinh viên cảm thấy công ty đó là tốt, có nhiều điều hay, có những yếu tố thu hút thì họ sẽ hình thành ý định chọn nơi đó làm nơi làm việc. Ngược lại, nếu những sinh viên sắp tốt nghiệp cho rằng một doanh nghiệp không có yếu tố hấp dẫn nào thì họ sẽ từ bỏ ý định ứng tuyển vào doanh nghiệp đó.
Lý thuyết về hành vi hoạch địch Lý thuyết về hành vi hoạch định của nhà nghiên cứu Ajzen vào năm 1991 – viết tắt là TPB – bắt đầu là Lý thuyết về hành động hợp lý vào năm 1980 để dự đoán ý định của một cá nhân để tham gia vào một hành vi (Behavior) tại một thời điểm và địa điểm cụ thể. Lý thuyết này nhằm giải thích tất cả các hành vi mà mọi người có khả năng tự kiểm soát. Thành phần chính của mô hình này là ý định hành vi; ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi thái độ về khả năng hành vi đó sẽ có kết quả mong đợi, đánh giá chủ quan về rủi ro và lợi ích của kết quả đó cũng như chịu sự ảnh hưởng bởi khả năng nhận thức kiểm soát hành vi của chủ thể. Lý thuyết về hành vi có kế hoạch đã được sử dụng để dự đoán và giải thích một cách có hiệu quả cho hàng loạt các hành vi và ý định sức khỏe bao gồm hút thuốc, uống rượu, sử dụng dịch vụ y tế, cho con bú và sử dụng chất kích thích, trong số những hành vi khác.
Lý thuyết về hành vi có kế hoạch tuyên bố rằng sự dẫn đến hành vi phụ thuộc vào cả động cơ (ý định) và khả năng (kiểm soát hành vi). Trong bài nghiên cứu của mình, Ajzen đã đưa ra mô hình của mình về Ý định hành vi như ở Hình 2. Mô hình Lý thuyết hành vi hoạch định của Ajzen (1991) (Nguồn: Ajzen, 1991) Ajzen đã tuyên bố rằng Ý định hành vi (Intention) của một con người là nhân tố cơ bản xúc tiến hành vi của con người. Và nhân tố này lại được dẫn dắt cũng như chịu sự tác động đến từ 03 nhân tố khác, đó là: Thái độ (Attitude toward the behavior), Chuẩn chủ quan (Subjective norm) và Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived behavioral control) (Ajzen, 1991).
- Thái độ: Điều này đề cập đến mức độ mà một người có sự đánh giá rằng có thuận lợi hoặc không thuận lợi về hành vi mà họ quan tâm. Việc này đòi hỏi phải xem xét các kết quả của việc thực hiện hành vi. - Chuẩn chủ quan: Điều này đề cập đến niềm tin rằng liệu những người chung quanh có tán thành hoặc phản đối một hành vi nào đó. Chuyện này cũng liên quan đến niềm tin của một cá nhân rằng liệu những người cùng trang lứa với họ hoặc những ai mà họ xem trọng có nghĩ rằng họ nên tham gia vào hành vi đó hay không.
9 - Nhận thức kiểm soát hành vi: Điều này đề cập đến nhận thức của một người về sự dễ dàng hoặc khó khăn khi thực hiện hành vi mà họ quan tâm. Nhận thức kiểm soát hành vi có sự khác biệt giữa các tình huống và hành động, dẫn đến việc một người có nhận thức khác nhau về kiểm soát hành vi tùy thuộc vào tình huống. Cấu trúc lý thuyết này đã được thêm vào sau đó và tạo ra sự chuyển đổi từ Lý thuyết hành động hợp lý sang Lý thuyết hành vi hoạch định. Lý thuyết hành vi hoạch định được dựa trên và bổ sung cho lý thuyết TRA.
Lý thuyết này cho ta thấy thêm một góc nhìn rằng niềm tin của một cá nhân vào việc liệu họ có thể thực một hành động nào đó hay không cũng sẽ ảnh hưởng đến ý định hành vi của cá nhân đó. Và việc một sinh viên năm cuối sau khi tốt nghiệp có quyết định nộp đơn ứng tuyển vào một doanh nghiệp nào đó hay không cũng phụ thuộc vào nhận thức kiểm soát hành vi của người đó. Đó có thể là việc người đó cảm nhận rằng mình có hòa hợp hoặc phù hợp với môi trường, văn hóa và giá trị của công ty đó hay không. Các nghiên cứu đi trƣớc 2.
Nghiên cứu trong nước Trần Nguyên Phong (2019) đã đưa ra mô hình nghiên cứu cho những nhân tố tác động đến ý định theo đuổi việc làm của ứng viên trong quá trình tuyển nhân sự tại tổ chức công quận Ba. Theo ông, có sáu nhân tố có tác động đến ý định của họ như Hình 2. Mô hình nghiên cứu của Trần Nguyên Phong (2019) (Nguồn: Trần Nguyên Phong, 2019) 10 Cũng theo kết quả số liệu từ bài nghiên cứu của ông, tất cả những nhân tố ở Hình 2.3 đều ảnh hưởng tích cực tới nhận thức và ý định của các ứng viên khi các yếu tố này đều có hệ số Cronbach's Alpha lớn hơn 0.7 và giá trị Sig. Mặt khác, Lê Văn Vĩ (2019) lại cho rằng ý định ứng tuyển vào doanh nghiệp của một ứng viên chịu tác động của năm yếu tố: (1) Tính thú vị trong công việc, (2) Chính sách đãi ngộ, (3) Cơ hội phát triển nghề nghiệp, (4) Cơ hội ứng dụng kiến thức, (5) Danh tiếng công ty.
Các yếu tố này đã được kiểm định qua hệ số Cronbach's Alpha với kết quả đáng tin cậy (lớn hơn hoặc bằng 0.77), đồng thời các chỉ số khác như KMO và phương trình hồi quy đều cho thấy tất cả 05 yếu tố trên đều có mối quan hệ đồng biến với ý định ứng tuyển của ứng viên. Nhiều ngành kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động trầm trọng do cạnh tranh với các bộ phận đang phát triển nhanh khác của nền kinh tế. Những cuộc đấu tranh để có được những nhân viên chất lượng cao đang bóp nghẹt sự phát triển trong tương lai và đặt tầm quan trọng mới lên vai trò của tuyển dụng. Để hiểu rõ hơn về hiệu quả của chiến lược tuyển dụng của tổ chức, nhà tuyển dụng cần xác định Ý định theo đuổi công việc của người tìm việc để điều chỉnh hiệu quả ý tưởng làm việc của ứng viên với mục tiêu của tổ chức (Linh et al.