Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 7 Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Giải pháp và kết luận 8 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm nghiên cứu liên quan 2. Khái niệm hoạt động ngoại khóa Hoạt động ngoại khóa là các hoạt động nằm ngoài chương trình học chính khóa thường được tổ chức trong hai học kỳ chính thức và chương trình học thêm vào kỳ hè.
Hoạt động ngoại khóa liên quan đến tất cả các hoạt động văn hóa - thể thao - giải trí - xã hội ngoài giờ học chính thức trên lớp. Đây được xem là một sân chơi để sinh viên tự nguyện tham gia theo nhu cầu và khả năng của bản thân thông qua đó phát triển các kỹ năng cần thiết. Ngoài kiến thức được truyền tải với chương trình chính khóa thì hoạt động ngoại khóa được đánh giá là mang lại lợi ích rất lớn trong việc giúp sinh viên phát triển kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng ứng xử, giải quyết tình huống,…. Đối với sinh viên, hoạt động ngoại khóa đóng vai trò rất lớn không chỉ trong quá trình tham gia học tập tại giảng đường đại học mà còn sau khi ra trường.
Sự quyết định tham gia hoạt động ngoại khóa 2. Sự quyết định Lý thuyết ra quyết định (Decision Theory) phát triển từ giữa thế kỷ 20 và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau nhưng đều hướng đến mục đích giải quyết chung một vấn đề là ra quyết định. Theo Katarzyna và cộng sự (2021), Lý thuyết ra quyết định là học thuyết chính giúp giải thích sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố đầu vào tác động tới quá trình ra quyết định của người sử dụng thông tin nói chung. Quá trình ra quyết định được tiến hành theo 5 bước trong đó thu thập và đánh giá thông tin là những bước quan trọng (Rahman và cộng sự, 2021).
Thông tin càng nhiều, càng chính xác thì quyết định được đưa ra càng đúng đắn (Bruch & Feinberg, 2017), cũng như dựa vào mục tiêu và niềm tin về kết quả của việc ra quyết định (Katarzyna & Beyer, 2021; Oberle và cộng sự, 2019), hoặc do tác động bởi yếu tố khác từ bên ngoài, cũng như lợi ích có được từ việc ra quyết định (Schaefer và cộng sự, 2011) và kết quả tích cực từ quá khứ khi quyết định tham gia các hoạt động ngoại khóa (Buckley & Lee, 2021). 9 Quyết định có thể được xem xét như là một kết quả của quá trình phân tích lựa chọn để tham gia một hoạt động hoặc sự kiện. Hành động này hoàn toàn do chủ thể đưa ra khi đã nhận định và xem xét vấn đề thấu đáo. Sự quyết định tham gia hoạt động ngoại khoá Sự quyết định tham gia hoạt động ngoại khóa của sinh viên Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh là được thể hiện qua một quá trình phân tích lựa chọn và được kết thúc bằng hành động đăng ký chính thức tham gia một hoạt động ngoại khoá nào đó, hành động đăng ký này có thể được thực hiện trực tiếp hay thông qua các kênh điện tử của các đơn vị tổ chức.
Trí thông minh xúc cảm Trí thông minh xúc cảm (emotional intelligence quotient – EI) đã tồn tại khá lâu trước khi các nhà nghiên cứu bắt đầu nghiên cứu sâu và rộng rãi về lĩnh vực này như hiện nay. Nhà tâm lý học đầu tiên nghiên cứu về EI là Thorndike (1921), nhưng tại thời điểm đó ông lại đề cập EI như là trí thông minh xã hội (Social intelligence - SI). Khái niệm EI của ông chưa chính xác toàn diện một phần vì sự hiểu biết hiện đại về EI chưa được thiết lập cụ thể, nhưng đây cũng là nền tảng cơ bản cho các nghiên cứu sau này. Ông xây dựng khái niệm về EI dựa trên định nghĩa của trí thông minh là “năng lực tổng thể hoặc năng lực chung của cá nhân để hành động có mục đích, để suy nghĩ hợp lý và để ứng phó có hiệu quả với môi trường xung quanh”.
Vào thời điểm đó, Thorndike và các nhà nghiên cứu tập trung nghiên cứu về EI và SI với mục đích để hiểu và quản lý con người. Qua thời gian, trí thông minh xã hội (SI) được biết đến như trí thông minh xúc cảm (EI) khi mà các nhà nghiên cứu tập trung nhiều hơn về xúc cảm hơn là những tương tác xã hội. Sau này đã có nhiều nhà nghiên cứu và đưa ra nhiều khái niệm về chủ đề này. Hai nhà tâm lý học được xem là cha đẻ của khung lý thuyết trí thông minh xúc cảm là Mayer và Salovey (1993) đã đưa ra mô tả về EI là “khả năng đánh giá và biểu hiện cảm xúc, điều chỉnh xúc cảm và sử dụng một cách phù hợp cho các hoạt động”.
Hai ông đã xác định rằng EI như “khả năng theo dõi cảm giác và xúc cảm của mình cũng như của người khác, phân biệt chúng, và sử dụng thông tin này để dẫn dắt tư duy và hành động của mình”. Đến năm 1997, sau nhiều năm nghiên cứu, ông và cộng sự đã cho ra đời quan niệm mới về trí 10 thông minh xúc cảm. Cụ thể, hai ông định nghĩa: “Trí thông minh cảm xúc là năng lực nhận thức chính xác, đánh giá và bộc lộ cảm xúc; năng lực tiếp cận và tạo ra xúc cảm khi những xúc cảm này tạo điều kiện thúc đẩy tư duy; năng lực hiểu cảm xúc và có kiến thức về xúc cảm; và năng lực điều chỉnh những xúc cảm để đẩy nhanh sự phát triển xúc cảm và trí thông minh” (Mayer và Salovey, 1997). Như vậy, đúc kết từ những định nghĩa về trí thông minh xúc cảm hơn nhiều thập qua, nghiên cứu này sẽ lựa chọn định nghĩa của Mayer và Salovey.
Theo đó, trí thông minh cảm xúc là khả năng nhận biết, hiểu rõ và làm chủ các xúc cảm của chính bản thân; năng lực nhận biết, thấu hiểu cảm xúc của người khác; năng lực vận dụng những thông tin về xúc cảm đề định hướng suy nghĩ, hành động của bản thân trong từng tình huống cụ thể. Mayer & Salovey (1997) định nghĩa “Trí tuệ xúc cảm là một loại năng lực nhận thức thể hiện rõ nét trong đánh giá và bộc lộ xúc cảm; năng lực tiếp cận và tạo ra xúc cảm khi những xúc cảm này tạo điều kiện thúc đẩy tư duy; năng lực hiểu xúc cảm và có kiến thức về xúc cảm; và năng lực điều chỉnh những xúc cảm để đẩy nhanh sự phát triển xúc cảm và trí thông minh”. Kỹ năng giải quyết vấn đề Kỹ năng giải quyết vấn đề được D’Zurilla & Nezu (2010) định nghĩa là “một quá trình nhận thức - xúc cảm - hành vi bao gồm những cách hiệu quả để đối phó với những vấn đề trải qua trong cuộc sống hàng ngày, xác định và khám phá những nỗ lực của cá nhân (hoặc nhóm)”. Kỹ năng giải quyết vấn đề bao gồm khả năng tìm kiếm thông tin, phân tích các tình huống nhằm mục đích xác định vấn đề để tạo ra các hướng hành động thay thế, cân nhắc các hướng hành động thay thế đối với các kết quả mong muốn hoặc dự kiến (Gagné, 1988).
Trong môi trường học tập của sinh viên, kỹ năng giải quyết vấn đề đòi hỏi khả năng suy nghĩ thấy đáo của người học (Jeevanantham, 2005; Shakir, 2009). Các nghiên cứu nước ngoài liên quan 2. Lý thuyết hành động hợp lý Martin Fishbein (1967) là người đầu tiên đưa ra Thuyết hành động hợp lý, sau đó Fishbein cùng với Ajzen phát triển và hoàn thiện thêm hai lần lý thuyết này vào các năm 11 1975 và 1980. Lý thuyết này cho thấy rằng ý định thực hiện hành vi của một người có thể dự đoán được thông qua việc quan sát vào hai nhân tố: 1) Yếu tố Thái độ thể hiện thích hay không thích việc cá nhân muốn làm và sự nhận định là việc sắp làm sẽ mang lại lợi ích hay bất lợi gì cho cá nhân đó hay không.
2) Yếu tố Xã hội là những đánh giá của bản thân về ý kiến của những người liên quan thân thiết như người thân gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,. gợi ý rằng cá nhân có nên thực hiện một hoạt động nào đó. Bên cạnh đó, Friedman & Hechter (1988) đã làm rõ thêm khái niệm “lựa chọn hợp lý”, ở đây sự lựa chọn của một cá phân phụ thuộc vào chính sở thích cá nhân đó hay nói cách khác hai tác giả này nhấn mạnh lý thuyết “lựa chọn hợp lý” tập trung chủ yếu vào vai trò cá nhân hơn là các yếu tố khác khi đưa ra sự lựa chọn. Lý thuyết hành vi kế hoạch Lý thuyết hành vi kế hoạch hay còn gọi là lý thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991) được phát triển từ thuyết hành động hợp lý của chính tác giả, lý thuyết này thường được sử dụng khá phổ biến để giải thích ý định của một ai đó.
Lý thuyết này cho rằng ý định thực hiện một hành vi chịu tác động của 3 nhân tố chính đó là thái độ của cá nhân, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi cá nhân. Thái độ của cá nhân là việc cá nhân đó cảm nhận như thế nào khi thực hiện hành vi, thái độ này có thể là rất tích cực hoặc ngược lại. Quy chuẩn chủ quan lại liên quan đến việc người thân, bạn bè,… Nhận thức kiểm soát hành vi liên quan đến những cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn trong khi thực hiện hành vi. Mô hình trí tuệ xúc cảm Mayer & Salovey (1990) cho rằng trí tuệ xúc cảm (Emotional intelligence-EI) là sự làm chủ những mối quan hệ giữa con người với nhau và là khả năng của người có trí thông minh xúc cảm cao khi có khả năng quản lý, điều khiển xúc cảm của mình hướng đến giải quyết một vấn đề xã hội hoặc hướng đến đạt một mục đích trong một hoàn cảnh cụ thể và khơi gợi được những phản ứng tích cực từ người khác.
Mayer & Salovey (1997) đã cập nhật mô hình mới, bao gồm: năng lực nhận biết các cảm xúc, năng lực sử dụng các xúc cảm, năng lực thấu hiểu các xúc cảm, năng lực quản lý các xúc cảm. Trong mô hình để xuất mới, hai ông đã đưa khái niệm tập trung vào năng lực trí thông minh và tách biệt 12 nó với những đặc điểm nhân cách xúc cảm xã hội truyền thống. Mô hình mới này làm rõ mối quan hệ về mặt cấu trúc tâm lý và đồng thời các nhân tố được trải qua từ kỹ năng cơ bản đến nâng cao.