Chương 1: TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÁC YEU TO ANH HUONG DEN Ý ĐỊNH LỰA CHỌN SỬ DỤNG THANH TOÁN QUA THIẾT BỊ DI ĐỌNG. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Tầm quan trọng của thanh toán di động được nhắn mạnh bởi một số tác giả; họ cho rằng thanh toán qua TBDĐ cho phép tạo ra một giá trị đặc biệt cho cả người tiêu dùng và người bán (Lai & Chuah, 2010), và đó là một trong những động lực quan trọng nhất cho sự thành công của thương mại di động (Yang & cộng sự, 2012), điều đó đang thay đổi thị trường thanh toán (Hedman & Henningsson, 2015), và đang nhận được sự chú ý ngày càng tăng trên toàn cầu (Chen, 2008). Dahlberg & cộng sự (2015) nhận thay su dé sử dụng va nhận thức tinh hữu ích là các biến thường xuyên ảnh hưởng đến ý định sử dụng hệ thống thanh toán di động, tiếp theo là các yếu tố dựa trên sự bảo mật và ảnh hưởng xã hội, thông qua việc tổng hop 188 bài viết về nghiên cứu thanh toán di động được xuất bản trong giai đoạn 2007 — 2014.
Ngoài ra, Leong & cộng sự (2013) đã sử dụng các lý thuyết từ khoa học tâm lý, dựa trên niềm tin, kiểm soát hành vi và mô hình chấp nhận công nghệ - TAM (Davis, 1989) dé nghiên cứu ý định sử dụng thanh toán di động. Slade và cộng sự (2014) đề xuất khám phá thêm lý thuyết như niềm tin và nhận thức rủi ro. Hiện nay, Trung Quốc là một trong những quốc gia áp dụng rộng rãi các dịch vụ thanh toán di động trong cuộc sông hàng ngày của người dân (Sleiman, 2021). Sleiman (2021) cho rang thanh toán di động là một hệ thống phức tạp, và liên quan trực tiêp đên các vân đê tài chính nên việc áp dụng rộng rãi chúng phụ thuộc rât 12 nhiều vào lòng tin của người dùng.
Và đã tiến hành một cuộc khảo sát thực nghiệm và 373 mẫu đã được thu thập bằng bảng câu hỏi hợp lệ từ những người dùng nền tảng thanh toán phổ biến ở Trung Quốc -thanh toán Alipay và WeChat. Kết quả bài nghiên cứu nhận thấy rang sự giám sát của chính phủ là yếu tố quan trọng nhất đối với niềm tin của người dùng, tiếp theo là danh tiếng và bảo mật. Giám sát của chính phủ ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi. Hơn nữa, tính di động, chuẩn mực chủ quan, tính hữu ích, tính dễ sử dụng và cảm nhận về sự thích thú tác động đến ý định hành vi của người dùng.
Schierz & cộng sự, (2010) thông qua nghiên cứu thực nghiệm của mình, đã tập trung vào các yếu tố quyết định sự chấp nhận của người tiêu dùng đối với dịch vụ thanh toán di động của người dân Đức. Bang cách sử dung dữ liệu từ 1447 người trả lời là người dùng di động đã được xem xét, và mô hình chấp nhận công nghệ mở rộng với các nhân tố về tính hữu ich được cảm nhận, tính dễ sử dụng được cảm nhận, thái độ đối với việc sử dụng, khả năng tương thích được cảm nhận, tính bảo mật được cảm nhận, tính di động, chuẩn mực chủ quan và ý định sử dụng. Kết quả bài nghiên cứu đã chỉ ra răng khả năng tương thích được cảm nhận có ảnh hưởng đáng kề nhất đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán di động trong khi tính di động của cá nhân được coi là động lực chính của việc chấp nhận thanh toán di động. Bên cạnh đó, Petrova & Mehra (2010) thông qua một nghiên cứu thăm dò đã chứng minh rang mức độ quen thuộc của người dùng với thanh toán qua TBDD và nhận thức chung của họ về dịch vụ có thể ảnh hưởng đến thái độ của họ đối với nó.
Kết quả cũng cho thấy rằng cả các đặc điểm nhân khẩu học như thu nhập và chỉ tiêu cho thanh toán qua TBDĐ có thể đóng một vai trò quan trọng, ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc sử dụng thanh toán qua TBDĐ. 13 Peng và cộng sự (2012) khám phá các yếu tô ảnh hưởng đến sự chấp nhận của khách du lịch đối với thanh toán di động ở Trung Quốc. Họ đã áp dụng mô hình TAM mở rộng bằng cách thêm cảm nhận khả năng tương thích, nhận thức bảo mật, kiến thức về thanh toán qua TBDĐ và tính nhạy cảm giữa các cá nhân. Họ phát hiện ra rằng ngoài nhận thức sự hữu ích và nhận thức tính dễ sử dụng, nhận thức bảo mật đóng vai trò quan trọng trong ý định sử dụng của khách du lịch.
Nhận thức tính dễ sử dụng bị ảnh hưởng bởi kiến thức về thanh toán di động và nhận thức sự hữu ích bị ảnh hưởng bởi khả năng tương thích và nhận thức bảo mật. Một nghiên cứu khác ở Trung Quốc của Yang & cộng sự (2012) đã có gắng xác định các yếu tố quyết định trước khi sử dụng các dịch vụ thanh toán di động và khám phá sự phát triển theo thời gian của các yếu tố quyết định này qua các giai đoạn trước và sau khi sử dụng từ góc độ tổng thé bao gồm niềm tin hành vi, ảnh hưởng xã hội và yếu tố nhân khẩu học. Những phát hiện quan trọng nhất của họ cho thấy niềm tin hành vi kết hợp với anh hưởng xã hội và yếu tố nhân khẩu học đều là những yếu tố quyết định quan trọng đối với việc chấp nhận và sử dụng dịch vụ thanh toán di động, nhưng tác động của chúng đối với ý định hành vi lại khác nhau ở các giai đoạn khác nhau. Adebiyi & cộng sự (2013) đã điều tra mức độ chấp nhận thanh toán di động ở Nigeria.
Họ đã sử dụng các cấu trúc mô hình TAM được tích hợp với lợi thế tương đối, khả năng tương thích, độ phức tạp, chi phí, độ tin cậy và bảo mật dé xây dung mô hình của riêng họ. Kết qua nghiên cứu cho thay loi thé tương đối là yếu tô dự đoán mạnh nhất trong việc giải thích ý định hành vi sử dụng thanh toán di động, tiếp theo là tinh dé sử dụng, độ tin cậy và tính hữu dụng tương ứng. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn cho thấy người dân Nigeria sẵn sàng lựa chọn phương án 14 thanh toán không dùng tiền mặt do ưu điểm thuận tiện, dễ sử dụng, dễ tiếp cận, rút ngắn thời gian giao dịch. Cabanillas & cộng sự (2015) đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm và đề xuất một mô hình dé tìm ra các yếu tố quyết định việc sử dụng hệ thống thanh toán di động ở Tây Ban Nha.
Nghiên cứu chỉ ra độ tuổi được sử dụng như một yếu tố kiểm duyệt và nó được cho là có ý nghĩa trong việc ảnh hưởng đến quyết định của người dùng. Và đã phát hiện ra rằng những người dùng trẻ tuôi thì sẽ có xu hướng hướng tới các công cụ công nghệ mới hơn những người lớn tuổi hơn. Cũng vào năm 2015, Kabata đã điều tra các yếu tố động cơ ảnh hưởng đến việc sử dụng các dịch vụ thanh toán di động ở Kenya. Kết quả hồi quy cho thấy sáu biến số, nhận thức về tính hữu dụng, nhận thức về tính đễ sử dụng và nhận thức về mức độ thích thú, nhận thức về bảo mật, tuổi tác và trình độ học vẫn ảnh hưởng đáng kế đến việc sử dụng dịch vụ thanh toán di động của người tiêu dùng ở Kenya.
Trong khi đó, ảnh hưởng xã hội và giới tính không ảnh hưởng đến việc sử dụng các dịch vụ thanh toán di động. Nghiên cứu trong nước Phan Đại Thich (2019) đã xem xét các thành phan tác động đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng di động của người dùng. Bài nghiên cứu đã tìm thấy 6 nhân tố được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu tác động lên dự định hành vi gồm có: Nhận thức sự hữu ích, thái độ, nhận thức về sự an toàn, sự tin tưởng, ảnh hưởng xã hội và nhận thức tính dễ sử dụng. Bên cạnh đó, Lê Hoằng Bá Huyền (2018) đã nghiên cứu các thành phần có tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng di động của người dùng cá nhân tại Agribank, chi nhánh tỉnh Thanh Hóa.
Dựa vào khung lý thuyết từ mô hình TAM và mô hình UTAUT, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu 300 KHCN, kết quả của bài 15 nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng di động của người dùng bao gồm: (1) Hiệu quả mong đợi; (2) Nhận thức dé sử dung; (3) Ảnh hưởng xã hội; (4) Nhận thức sự tin cậy; (Š) Khả năng tương thích; (6) Nhận thức về chỉ phi; (7) Mức độ sử dụng. Ngoài ra, Nguyễn Duy Long (2017) đã phát hiện có sự thay đổi về 5 yếu tố: cảm nhận sự hữu ích, cảm nhận sự dễ sử dụng, cảm nhận sự tin tưởng, cảm nhận về chỉ phí và cảm nhận về rủi ro được xác định là ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng di động giữa các nhóm người dùng đã sử dụng, và chưa sử dụng dịch vụ tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Đà Lạt. Cụ thể nhóm người dùng đã sử dụng bi ảnh hưởng bởi những yếu tố sự hữu ích, chi phí và rủi ro; còn nhóm người dùng chưa sử dụng lại bị ảnh hưởng bởi yếu tố dễ sử dụng và sự tin tưởng đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng di động. Nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ thanh toán di động của sinh viên tại Trường Đại học Ngân hàng.
TP HCM, Nguyễn Thị Như Quỳnh và Phạm Thị Ngọc Anh (2021) đã nghiên cứu và nhận thấy có 6 yếu tô tác động đến ý định sử dung của sinh viên theo mức độ tăng dần là ảnh hưởng từ xã hội, nhận thức rủi ro, nhận thức tính bảo mật, nhận thức tính hữu dụng, nhận thức tính dễ sử dụng và cuối cùng ảnh hưởng lớn nhất là chương trình khuyến mãi. Trong đó, nhận thức rủi ro có tác động tiêu cực đến ý định của sinh viên Đại học Ngân hàng TP. Ngoài ra, Nguyễn Thị Linh Phương (2013) bằng mô hình thống nhất việc chấp nhận và sử dung công nghệ (UTAUT), đã chỉ ra 8 nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của người Việt Nam. Trong đó, có 2 nhân tố khác biệt so với các nghiên cứu trước là: Hỗ trợ Chính phủ và Cộng đồng người dùng.
Đồng 16 thời, bài nghiên cứu còn đo lường các cảm nhận về giá trị khi sử dụng ví điện tử của người dùng.