CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ Vi ĐIỆN TU VÀ PHÁP LUAT VE DỊCH VỤ VÍ ĐIỆN TỪ 1. Khái quát về địch vụ ví điện từ 1. Khái tiệm về địch vụ vi điệu tit Trong hoat động thanh toán hang ngày, ví điện tử thường được biết đến la mat ứng dụng công nghệ cho phép người dùng đăng ky một tai khoản liên kết với tài khoản ngân hang.
Bang tài khoản này, người dùng có thé nạp tiên từ tai khoản ngân hàng và thực biện giao dich thanh toán trên các thiét bị công nghệ có kết nói Internet nhu may tính, điện thoại,. ma không cần sử dung tiên mặt hay thé ngân hàng Dưới góc đô pháp lý, hiện nay vẫn chưa có mét khái niém thống nhất về ví điện tử trong hệ thông pháp luật quốc tê. Phòng thương mai quốc tệ (International Chamber of Commerce —ICC) có cách hiểu ví điện tử dua trên bản chất hoạt đồng của ví điện tử 1a một hệ thông dựa trên phên mềm dé thực hiện các giao dich thương mại điện tử, được thực hiện thông qua các thiết bị điện tử, có tính năng xác thực người dùng lưu trữ thông tin va còn có thé sử dụng kết hợp với các hệ thông thanh toán di đông khác3 Trong khi đó, ví điện tử được Tô chức Hợp tác và Phát triển Kinh tê (Organisation for Economic C o-operation and Development - OECD) nhin nhận là mt loai hình “dich vụ trung gian”. Dù không đưa ra khái niém dich vụ ví điện tử cụ thể song OECD lại cung cấp vệ khái niệm của thuật ngữ “dich vụ trung gian” (“mediating services”).
Vé ban chất, dich vụ này vẫn sử dụng các phương tiện thanh toán truyền thông là thể tin dung và tai khoản ngân hàng, tuy nhiên, thay vì chuyên khoản trực tiếp, sẽ có bên kinh doanh “dich vụ trung gian” lam câu nổi giúp khách hàng thanh toán, và khách chỉ phải đăng ki bằng cách cung cập chi tiệt thé tin dụng hoặc tai khoản ngân hàng làm nguồn thanh toán! Giồng vớiOECD, pháp luật Việt Nam tiếp cân ví điện tử với tư cách là mét loại hinh dich vụ trung gian thanh toán, được luật hoa bằng thuật ngữ “dịch vụ ví điện tử”. Cu thể, khoản2 Điều2 Thông tư 39/2014/TT-NHNN xác định dich vụ ví điện tử là mat 3 International Chamber of Commerce (ICC) (03/2020), WTO Plurilateral Negotiations on Trade-related Aspects of Electronic Commerce, tr7, https://iccwbo., truy cập ngày 02/02/2024 + Organisation for Economic Co - operation and Development(OECD) (18/04/2006), Online payment systems Íor e-commerce, DSTIICCPIIE(2004)18IFINAL, tr20, https:avww oecdLorg(stl/ieconony/36736056 pdf, truy cập ngày 27/02/2024. 6 loại dịch vụ hỗ trợ thanh toán thuộc dich vu trung gian thanh toán. Điều 4 Nghi đính 101/2012/NĐ-CP được bô sung bởi Khoản 1 Điều 1 Nghị định 80/2016/NĐ-CP quy dinh như sau: “Dịch vụ ví điện tử là dich vu cung cấp cho khách hàng mot tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung Ung dich vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính .), cho phép lưu giữ một gid trị tiền tệ được dim bảo bang giá trị tiên gửi tương đương với số tiền được chuyên.
từ tài Khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài Khoản đâm bảo thanh toán. của tô chức cung ứng địch vụ ví điện tử theo tỷ lệ 1:1.” Về dich vụ trung gian thanh toán, Khoản 10 Điêu 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 định ng†ĩa dich vụ trung gian thanh toán là hoạt đông lam trung gian kết nói, truyền dan và xử lý đữ liệu điện tử các giao dich thanh toán giữa té chức cung ứng dịch vụ thanh toán và người sử đụng dịch vụ thanh toán. Như vậy, từ các khái niém và đính nghĩa trên, có thé hiểu: “dich vụ ví điện tử là mét loại địch vụ trung gian thanh toán do các tô chức cung ứng địch vụ trung gian thanh toán cung cap bang cách tao lập một nên tăng ứng dụng trên mang Internet cho phép người ding tạo một tai khoản để lưu trữ một giá trị tiên tệ nhật định và thực hiện các giao dich thanh toán thông qua các vật mang tin.” Là một dich vụ trung gian thanh toán song dich vụ ví điện tử có sự khác biệt đáng kể so với các loại địch vu trung gian thanh toán khác như cổng thanh toán điện tử, bù trừ điện tử, chuyển mach tài chinh,. Dé sử dung dich vụ ví điện tử, người sử dụng phải có một tài khoản dinh danh trên ứng dung ví điện tử liên kết với tai khoản ngân hàng, ở tải khoản nay người sử dung có thể lưu trữ tiên mặc dù không thực hiện giao dich thanh.
toán Việc định đanh tai khoản mét lân và duy trì sử dụng tài khoăn vi điện tử đã tạo nên muối quan hệ “lâu dài” giữa người sử dụng dịch vụ ví điện tử với công ty cung ứng dịch vụ. Trong khi đối với các loai dich vụ trung gian thanh toán khác, môi quan hệ giữa người sử dụng dich vụ và công ty cung ứng dich vụ chỉ tôn tại trong giao dich thanh. toán, sau khi thực hiện thanh toán thành công, người sử dụng dịch vụ và công ty cung ting dich vụ về cơ bản không còn môi quan hệ gì nữa”. Cũng bởi đặc điểm nay, dich vụ ví điện tử dé bị nham lẫn với dich vụ thanh toán.
bang smart-banling của ngân hàng Tuy nhiên, cân phân biệt đây là hai loại địch vụ 5 Xem Điều 3 Thông tư 39/2014/TT-NHNN sửa doi bởi Điều 1 Thông tư 23/2019/TT-NHNN 7 hoàn toàn khác nhau. Đối với dich vụ thanh toán bang smart-banking của ngân hàng, đây là một loai địch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng do NHTM cung cap, trong đó không có su có mat của bên thứ 3 trung gian giữa khách hàng và NHTM. Dich vụ ví điện tử thì khác, khách hàng không thé sử dung nó một cách độc lập nều không có tải khoản thanh toán ở NHTMliên kết với tai khoản ví điện tử 1. Đặc điềm cna địch vu vi điệu tít Từphân tích khái niém, có thé rút ra địch vụ ví điện tử có những đặc điểm sau Thứ nhất, về chủ thể tham gia Với bản chat là một dich vụ trung gian thanh toán, chủ thê tham gia cưng ứng, sử dung dich vụ bao gồm bên nhóm chính là: () tô chức cung ứng dich vụ ví điện tử, (i) khách hàng sử dung dịch vụ ví điện tử, (iii) don vị châp nhận thanh toán qua ví điện tử, (iv) ngân hang thương mai nơi khách hàng mở tài khoản thanh toán Trong đó, khách hang sử dung dich vụ ví điện tử và đơn vị chấp nhén thanh toán qua ví điện tử bao giờ cũng là bên yêu thé hơn so với các chủ thé còn lại.
Tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử là tổ chức không phải là ngân hàng được NHNN cấp giấy phép hoạt động cung ứng dich vụ trung gian thanh toán, Ngân hàng thương mai, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép cung úng dich vụ ví điện tử”. Đây là chủ thé đóng vai tro “cam cân nảy mực” trong quan hệ dich vu ví điện tử. chủ thé sử dụng dich vụ ví điện tử bao gồm hai đối tượng chính là người sử dụng ví điện tử và đơn vị chap nhận thanh toán Sự khác biệt giữa hai chủ thê này nam ở chỗ, người sử dụng ví điện tử thường là cá nhân, tô chức mở tài khoản ví điện tử nhằm mục dich thanh toán trực tuyến cho các sàn thương mai điện tử, đặt xe công nghệ, nạp thé điện thoại,. và được miễn phi giao dich, phí duy trì tài khoản, trong khi đơn vị chấp nhận thanh toán thường là tổ chức cung ứng hang hóa, dich vụ sử dung vi điện tử dé nhận khoản thanh toán từ khách hàng và phải trả chiết khâu trên mỗi giao dich cho ví điện ti.
Việc xác lập quan hệ pháp luật giữa tô chức cung ứng dich vụ ví điện tử và khách hang được thực hiện thông qua việc khách hàng chấp nhận, đông ý với các điều khoản £ Xem Khoản 1 Điều 14 Nghỉ định 101/2012/NĐ-CP hướng dan bởi Thỏng tư 46/2014/TT- NHNN ? Xem khoản 4 Điều 4 Nghi định 101/2012/NĐ-CP sửa đồi, bỗ sung bởi Khoản 1 Điều 1 Nghĩ định 80/2016/ND-CP DEN PS 8 Thanh Sang(2019), “Những w dién tit như Momo, Grabpay kém tiền bằng cách nào”, Tap chí mot thé giới điện từ, https://1 thegioi va/nhung-vi-dien-tu-nhu-momo-grabpay-kiem-tien- bang-cach-nao-21286 html , truy cập ngày 03/02/2024 § sử dung dich vụ ví điện tử Cuối cùng trong quan hệ này, NHTM đóng vai trò là chủ thé hỗ tro. Hiện nay, các ví điện tử đang yêu câu người sử dụng xác thực tải khoản trùng khớp thông tin với tai khoản thanh toán liên kết mở tại NHTM. về pham vi sử dụng, Ví điện tử hoạt đông dựa trên nền tảng Internet, điều này dan đến việc khách hang có thé thực hiện thanh toán, chuyên tiên thông qua dich vụ ví điện tử ở pham vi rông, bao gồm cả trong nước và nước ngoài, không kể ngày đêm, múi giờ. Tùy vào mục tiêu và tiêm lực của chủ thể cung ứng dich vụ ví điện tử, tùng ví điện tử sẽ được xây dung và phát triển thành dich vụ nội địa hay dich vụ quốc tế.
Ví điện tử tạo được mạng lưới liên kết với càng nhiéu ngân hàng, san thương mai điện tử thì phạm vi hoạt đông cảng rộng. Pham vi nay cũng phụ thuộc rất lớn vào pháp luật của các quốc gia và các điều tước quốc té có liên quan về việc quy dai tiên tậ(trong trường hợp có thé thanh toán quốc té), liên kết thé ngân hang nơi tổ chức cung ứng dich vụ hoạt động. Thứ ba, về nên ting công nghệ Co thé nói, ví điện tử là ứng dung của công nghệ hiện đại trong hoat động thanh toán không dùng tiền mặt. Sau khi người sử dung đăng kí một tài khoản, Vi điện tử sẽ duy tri một hệ thông lưu trữ thông tin người sử dung bao gém họ tên, số thé tin dung/thé ghi nợ, số căn cước công dân, vân tay,.
nhằm định danh người sử dụng va bảo mật. Khi người sử dụng thực hiện các giao địch chuyển tiền hoặc thanh toán, ví điện tử sẽ tự động. điện day đủ các thông tin cần thiết cho một giao dich, qua đó rút ngắn thời gian hoàn tat giao dich cho khách hang Đây chính là đặc điểm khác với các dich vụ trung gian thanh toán còn lại, bởi với các mô hình khác, vì tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán và người sử dung dich vụ “mua đút bán đoạt” thé nên mỗi giao dich có thé xem nhu độc lập, néu phát sinh giao dich lần sau thi khách hang phai nhập toàn bộ thông tin cần thiết cho giao dich như lân đầu. Thứ tư, về đông tiền sử dung.