Chương 1: Tổng quan đề tài 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích dữ liệu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 6 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm liên quan về ý định mua ứng dụng học tiếng Anh trên điện thoại di động của sinh viên Ý định mua hàng Theo (Ajzen & Fishbein,1975), ý định hành vi (Behavior Intention) là ý định thực hiện một hành vi cụ thể nào đó và chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố: Thái độ (Attitude) của người tiêu dùng, yếu tố thứ hai là chuẩn chủ quan (Subjective Norm). Ý định thực hiện hành vi càng mạnh thì khả năng thực hiện hành vi đó càng lớn (Ajzen, 1991). Ý định mua là một loại của quyết định mua hàng mà khi đó người tiêu dùng xem xét các lý do để mua một hàng hóa cụ thể (Shah et al. Ý định mua thường liên quan đến hành vi, nhận thức và thái độ của người tiêu dùng.
Ý định mua có thể thay đổi do ảnh hưởng của giá cả, chất lượng và giá trị mà người tiêu dùng cảm nhận được. Kotler và cộng sự đã đề xuất sáu giai đoạn trước khi quyết định mua, đó là: nhận thức, tìm kiếm thông tin liên quan đến sản phẩm, quan tâm đến sản phẩm, ưa thích sản phẩm, tin tưởng và quyết định mua. Ý định mua hàng qua mạng Ý định mua hàng qua mạng quyết định đến độ mạnh hành vi mua hàng qua mạng của khách hàng (Salisbury, Pearson, Pearson & Miller, 2001). Theo (Pavlou, 2003), khi một khách hàng dự định dùng giao dịch trực tuyến để mua sắm, đó được gọi là ý định mua hàng trực tuyến.
Cụ thể, khi quá trình họ tìm kiếm, trao đổi thông tin và mua hàng sẽ được thực hiện qua mạng internet, đó được coi là giao dịch qua mạng. Học trên thiết bị di động Theo Sandberg, Maris và Geus (2011) thì học tập trên thiết bị di động bao gồm việc sử dụng các thiết bị di động để học tập và xây dựng kiến thức trong bối cảnh khác nhau vượt ra ngoài giới hạn của các phòng học vật chất. Kukulska-Hulme và Traxler (2008) khái niệm việc học trên thiết bị di động là “liên quan đến tính di động của người học, nghĩa là người học phải có thể tham gia trong các hoạt động giáo dục mà không bị ràng buộc học trong 7 một cơ sở vật chất được phân định chặt chẽ địa điểm ”. Bằng cách “nhấn mạnh tính liên tục hoặc tính tự phát của việc truy cập và tương tác qua các bối cảnh sử dụng khác nhau ” (Kukulska-Hulme & Shield, 2008), hoặc học bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi nào (Moroz, 2013; Sandberg et al., 2011), thiết bị di động và các ứng dụng liên quan thúc đẩy tính linh hoạt học tập (Ganapathy, Shuib & Azizan, 2016).
Sinh viên tự chịu trách nhiệm về quá trình học tập của họ, các thiết bị di động được cho là hỗ trợ học tập lấy sinh viên làm trung tâm (Ganapathy et al. Theo quan điểm kiến tạo về học tập, kiến thức được cho là được đồng xây dựng bởi người học và giáo viên, cũng như các đồng nghiệp. Điều này có thể đạt được bằng bổ sung kiến thức mới vào cơ sở kiến thức đã được thiết lập của một người thông qua tham gia vào trải nghiệm thực tế và khả năng tiếp cận với các nguồn hỗ trợ và tài nguyên học tập phong phú (Sandberg et al. Bằng cách tạo điều kiện mọi lúc, mọi nơi, truy cập vào nhiều loại tài nguyên học tập và ứng dụng giáo dục, điện thoại di động là thiết bị khuyến khích trải nghiệm học tập trung gian qua máy tính cho các phương pháp tiếp cận kiến tạo trong dạy và học (Cavus & Ibrahim, 2017).
Học tiếng Anh trên thiết bị di động Dựa trên sự tương đồng về khái niệm, việc học tiếng Anh trên thiết bị di động có thể được coi như việc học tiếng Anh được hỗ trợ trên thiết bị di động (thường là điện thoại thông minh). Nó liên quan đến việc sử dụng một số tiếng Anh di động ứng dụng học tập (ứng dụng) để học từ vựng, ngữ pháp tiếng Anh và cách diễn đạt hàng ngày (Yurdagül & Öz, 2018). Học tiếng Anh trên thiết bị di động có một số ưu điểm như mang lại nhiều cơ hội học tập hơn và giảm chi phí học tập. Về chi phí học tập, mặc dù một số ứng dụng học tiếng Anh cung cấp dịch vụ trả phí cho người dùng, nhưng chi phí học tiếng Anh trên thiết bị di động là thường thấp hơn nhiều so với việc theo học tại các cơ sở đào tạo tiếng Anh.
Tuy nhiên, học tiếng Anh trên di động cũng có một số mặt hạn chế. Một ví dụ điển hình là người học tiếng Anh thiếu tự chủ trong học tập khi sử dụng các ứng dụng học tiếng Anh trên điện thoại di động. Nói cách khác, họ có thể không khăng khăng muốn học tiếng Anh bằng cách sử dụng các ứng dụng học tiếng Anh trên thiết bị di động (Shi et al., 2017), dẫn 8 đến một số hậu quả có thể xảy ra như hiệu quả học tiếng Anh của người học có thể bị giảm và các nhà phát triển ứng dụng có thể mất một số lượng người dùng nhất định. Do đó, để tăng mức độ tương tác thực tế của người dùng trong các ứng dụng học tiếng Anh, một số ứng dụng học tiếng Anh đã tung ra “dịch vụ đăng ký học tiếng Anh trên thiết bị di động”, đây là một xu hướng thời thượng cách khuyến khích mọi người tiếp tục học tiếng Anh trên thiết bị di động Ý định mua ứng dụng Chúng ta có thể định nghĩa ý định mua hàng là khả năng người tiêu dùng sẽ sẵn sàng mua một sản phẩm hoặc dịch vụ trong tương lai (Wu, Yeh & Hsiao, 2011).
Trong nghiên cứu trước đây, ý định việc mua hàng đã được xác nhận là có tương quan thuận với cơ hội mua hàng thực tế (Schiffman & Kanuk, 2007). Trong ngữ cảnh ứng dụng dành cho thiết bị di động, ý định mua hàng đã được mô tả là sẵn sàng mua các ứng dụng phải trả phí, trả tiền cho các tính năng bổ sung, để xóa các phần bổ sung như quảng cáo (C. Hsu & Lin, 2015; Vigário, Neto, Fonseca, Freire & Inácio, 2015). Trong cụ thể trường hợp mua hàng trong ứng dụng, nếu có thể được định nghĩa là hành động mua các sản phẩm hoặc dịch vụ kỹ thuật số trong một ứng dụng di động (C.
Trong phạm vi bài nghiên cứu này, ý định mua hàng trong ứng dụng được nhắc đến là ý định mua các dịch vụ, tính năng trong ứng dụng học tiếng Anh.2 Các lý thuyết liên quan ý định mua Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 và được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70. Theo TRA, yếu tố quyết định đến hành vi cuối cùng không phải là thái độ mà là ý định hành vi. Ý định hành vi (behavior intention) bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thái độ (Attitude) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm). Trong đó, thái độ là biểu hiện yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực của người tiêu dùng đối với sản phẩm.
Còn chuẩn chủ quan thể hiện ảnh hưởng của quan hệ xã hội (gia đình, bạn bè,…) lên cá nhân người tiêu dùng.1 Thuyết hành động hợp lý TRA (Ajzen & Fishbein, 1975) Nguồn: Ajzen và Fishbein (1975) Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior -TPB) Trong những năm gần dây, lý thuyết về hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior -TPB) đã trở thành một trong những lý thuyết phổ biến nhất, đã sử dụng các lý thuyết tâm lý để giải thích và dự đoán hành vi của con người (Nguyễn Tấn Đạt, 2020). Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) là sự phát triển và cải tiến của thuyết hành động hợp lý Năm 1991, Ajzen hoàn thiện thuyết hành vi dự định (TPB) dựa trên mô hình hành động hợp lý (TRA) theo đó hành vi thực sự được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó. 10 Thái độ đối với hành vi Tiêu chuẩn Ý định hành Hành vi chủ quan vi Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.2 Thuyết về hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior -TPB) Nguồn: I. Ajzen (1991) Mô hình chấp nhận công nghệ – TAM (Davis, Bagozzi và Warshaw, 1989) Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model) (Davis, 1986) sử dụng để giải thích, dự đoán về sự chấp nhận và sử dụng một công nghệ.
Trên cơ sở của thuyết TRA, mô hình TAM khảo sát mối liên hệ và tác động của các yếu tố: nhận thức sự hữu ích, nhận thức tính dễ sử dụng, thái độ, ý định và hành vi thực sự trong việc chấp nhận công nghệ thông tin của người dùng. Mô hình TAM được hiệu chỉnh bởi Davis, Bagozzi và Warshaw (1989) bỏ yếu tố thái độ vì dựa trên kết quả nghiên cứu, các tác giả cho rằng: (1) Mặc dù nhận thức sự hữu ích có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành thái độ, nhưng thái độ có thể không giữ vai trò chính trong dự đoán ý định của hành vi nếu một cá nhân tiếp xúc với công nghệ đủ dài (2) Việc loại thái độ ra khỏi mô hình gốc, mô hình kết quả có ít chỉ tiêu hơn nhưng khả năng dự đoán của nó không thấp đi đáng kể so với mô hình gốc (3) Yếu tố nhận thức sự hữu ích đã bao hàm toàn bộ yếu tố thái độ trong nó. Nghĩa là, một người có thể sử dụng một công nghệ ngay cả khi họ không có thái độ ích cực đối với nó, miễn là công nghệ đó thực sự hữu ích hoặc công nghệ đó thực sự nâng cao hiệu suất công việc.3 Mô hình TAM (Davis và cộng sự, 1989) Nguồn: Davis và cộng sự (1989) 2.3 Tổng quan tài liệu có liên quan Nghiên cứu “Phát triển và xác thực mô hình đánh giá sự thành công của ứng dụng học tập có trả phí trên thiết bị di động” (Wang, Wang, Lin & Tsai, 2019) Dựa vào mô hình thành công của hệ thống thông tin (IS) và mô hình áp dụng dựa trên giá trị, nghiên cứu này đã phát triển và xác thực mô hình đa chiều để đánh giá thành công của ứng dụng m-learning trả phí. Mô hình được đề xuất mô tả mối quan hệ qua lại giữa bảy biến ảnh hưởng sự thành công của ứng dụng m-learning trả phí: (1) chất lượng hệ thống, (2) chất lượng thông tin, (3) cảm nhận về sự thích thú, (4) mức phí cảm nhận, (5) sự hài lòng của người dùng, (6) ý định sử dụng lại ứng dụng và (7) hiệu quả học tập.