Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày các khái niệm về việc làm, thị trường lao động, thất nghiệp; giới thiệu lý thuyết cung lao động cá nhân, lý thuyết cầu lao động, lý luận chung về việc làm, Keynes (1936), lý thuyết về tạo việc làm bằng di chuyển lao động của Harris và Todaro, lý thuyết ra quyết định, lý thuyết phát triển nghề nghiệp, nguyên nhân quyết định chọn việc; các mô hình lựa chọn nghề nghiệp như mô hình nghiên cứu của King và ctg (2010); mô hình nghiên cứu của Ali và Fereshteh (2010). Cũng ở chương này, đề tài trình bày tóm tắt về các nghiên cứu trước có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài để làm cơ sở đề xuất mô hình lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu Từ cơ sở lý thuyết được trình bày tại chương 2 với các nghiên cứu liên quan, đề tài xây dựng mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cách thức đo lường các biến trong mô hình.
Các kỹ thuật phân tích số liệu cũng sẽ được trình bày trong chương này. 5 Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương này trình bày thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu, phân tích các kết quả nghiên cứu đạt được để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu đồng thời tiến hành kiểm định các giả thuyết được đặt ra. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Nội dung chương này là tóm tắt các kết quả nghiên cứu của đề tài và đưa ra các khuyến nghị liên quan và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này tập trung trình bày các khái niệm (việc làm, thị trường lao động, thất nghiệp); giới thiệu các cơ sở lý thuyết (lý thuyết cung lao động cá nhân, lý thuyết cầu lao động, lý luận chung về việc làm của Keynes (1936), lý thuyết về tạo việc làm bằng di chuyển lao động của Harris và Todaro (1970), lý thuyết ra quyết định, lý thuyết phát triển nghề nghiệp, nguyên nhân quyết định chọn việc); các nghiên cứu trong và ngoài nước, các mô hình có liên quan đến đề tài (mô hình nghiên cứu của King và ctg (2010); mô hình nghiên cứu của Ali và Fereshteh (2010) và sau cùng là đề xuất mô hình lý thuyết thể hiện các yếu tố tác động đến thời gian tìm được việc làm đúng chuyên ngành của sinh viên trường CĐCĐ Bình Thuận.
Các khái niệm có liên quan 2.Việc làm Theo Keynes (1936, trích bởi Phan Huy Đường và Bùi Đức Tùng, 2011), vấn đề quan trọng nhất, nguy hiểm nhất đối với chủ nghĩa tư bản là khối lượng thất nghiệp và việc làm. Việc làm không chỉ xác định tình hình thị trường lao động, sự vận động của thất nghiệp mà còn bao gồm cả tình trạng sản xuất, khối lượng sản phẩm, quy mô thu nhập. Việc làm cụ thể hóa tình trạng nền kinh tế, cơ sở cho việc điều tiết nền kinh tế. Theo báo cáo phát triển thế giới (2013), việc làm là nền tảng căn bản cho phát triển.
Tại các nước đang phát triển, việc làm mang lại nhiều lợi ích to lớn hơn nhiều so với thu nhập đơn thuần, có vai trò quan trọng trong quá trình giảm nghèo. Báo cáo cho thấy: “ Một công việc tốt có thể làm thay đổi cuộc sống một cá nhân và những công việc phù hợp có thể chuyển đổi xã hội. Chính phủ các nước phải đưa việc làm trở thành trọng tâm của việc thúc đẩy sự thịnh vượng và chống đói nghèo”. Kim (2012, trích bởi Đặng Hiếu, 2013) cho rằng: Việc làm là hy vọng, là hòa bình, việc làm có thể làm cho các nước nhỏ dễ bị tổn thương trở nên vững mạnh.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012) đã xác định: “ Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” (điều 9, Bộ luật lao động). 7 Theo Tổng cục Thống kê (2011) định nghĩa người có việc làm như sau: Dân số có việc làm bao gồm tất cả những người từ 15 tuổi trở lên: (i) Trong tuần nghiên cứu đã làm việc ít nhất 1 giờ như những người làm công ăn lương, hay đang sản xuất/kinh doanh, hoặc lao động trên ruộng vườn/trang trại của chính họ, và (ii) Tuy không làm việc nhưng đã có một công việc để trở lại mà trong tuần qua họ chỉ tạm thời nghỉ việc do ốm đau, tranh chấp lao động, nghỉ hè/nghỉ lễ/đi du lịch…, do thời tiết xấu, do máy móc/công cụ sản xuất, do tiền công hoặc các khoản thanh toán liên quan khác… và chắc chắn họ sẽ trở lại làm việc sau thời gian tạm nghỉ. Theo Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế (2013), những người có việc làm là những người trên 15 tuổi mà trong một khoảng thời gian ngắn nhất định (thường là 1 tuần hoặc 7 ngày), có tham gia vào một hoạt động sản xuất ra hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ để được trả lương hoặc kiếm lợi nhuận. Nói theo cách khác, đó là những người làm việc ở một công việc được trả lương hoặc một việc tự kinh doanh để kiếm lợi nhuận trong khoảng thời gian ít nhất là 1 giờ trong giai đoạn khảo sát.
Nguyễn Thúy Hà (2013) cho rằng, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm.
Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân. Một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận. Ở Việt Nam, có 3 nguồn số liệu chính về việc làm: Trước năm 2007, điều tra mẫu hàng năm về lao động và việc làm do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng cục Thống kê thực hiện.
Từ năm 2007 đến nay, điều tra mẫu hàng năm về lao động và việc làm do Tổng cục Thống kê tiến hành. Đứng trên những góc độ nghiên cứu khác nhau ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp,… đã có nhiều định nghĩa được đưa ra nhằm làm sáng tỏ vấn đề về việc làm. Tuy nhiên, do đề tài chỉ tập 8 trung nghiên cứu về các yếu tố tác động đến thời gian tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp tại Trường CĐCĐ Bình Thuận giai đoạn 2012-2014 nên khái niệm việc làm được lựa chọn dựa trên cơ sở pháp luật Việt Nam hiện hành, đó là: “ Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Phân loại việc làm Nguyễn Nhi (2010) phân chia việc làm theo tính chất công việc và thời gian như sau: (i) Theo tính chất của việc làm, công việc được phân thành hai loại: việc làm theo tiền lương hoặc tiền công được hưởng và việc làm tự thân (có thể là cá nhân hoặc gia đình, có thể là chủ doanh nghiệp); (ii) Theo thời gian của việc làm, phân thành các loại: việc làm thời gian đầy đủ hoặc không đầy đủ; việc làm tạm thời và cố định; việc làm thường xuyên và việc làm theo thời vụ.
Theo Nguyễn Thúy Hà (2013), tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm ra thành nhiều loại. Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ. Việc làm chính là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác. Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính.
Ngoài ra, người ta còn chia việc làm thành việc làm toàn thời gian, bán thời gian, việc làm thêm. Theo đó, việc làm toàn thời gian để chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày trong tuần; Việc làm bán thời gian, mô tả công việc làm không đủ thời gian giờ hành chính quy định của Nhà nước 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần, thời gian làm việc có thể dao động từ 0.5 đến 5 tiếng mỗi ngày và không liên tục; Việc làm thêm, mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định. Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) (2013), còn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn hay việc làm bền vững. Việc làm đúng chuyên ngành Quế Lâm (2011) cho rằng, Marketing là một lĩnh vực khá tổng quát và hội tụ nhiều yếu tố để làm nên một thương hiệu.
Chính vì thế nhân viên cho bộ phận Marketing cũng rất đa dạng: có thể kể đến là nhân viên chiến lược marketing, nhân viên sáng tạo, nhân viên PR, nhân viên tổ chức sự kiện, …Vì thế các công việc phù hợp với chuyên ngành Marketing là nhân viên chiến lược marketing, nhân viên sáng tạo, nhân viên PR, nhân viên tổ chức sự kiện, chuyên viên bán hàng. 9 Ngành Quản trị kinh doanh đào tạo những nhà quản lý nắm vững kiến thức cơ bản về kinh tế - xã hội, các kiến thức kỹ năng, quá trình kinh doanh và quản trị ở các doanh nghiệp; có kỹ năng cơ bản để vận dụng trong kinh doanh nói chung và thực hành tốt trong một số công việc cụ thể thuộc lĩnh vực kinh doanh.