Chương 1 sẽ giới thiệu về vấn đề tập trung nghiên cứu, xác định cụ thể mục tiêu cần đạt được trong nghiên cứu, giới hạn lại đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đồng thời trình bày ý nghĩa mà kết quả nghiên cứu kỳ vọng sẽ mang lại. Chương 2 sẽ tập trung làm rõ những lý thuyết, khái niệm liên quan đến viêm gan B, như: các đường lây truyền, cách phòng ngừa, các điều trị… Đồng thời, các lý thuyết được vận dụng để nghiên cứu về hành vi, cũng như các nghiên cứu thực nghiệm trước liên quan đến đề tài cũng được trình bày chi tiết trong phần này. Chương 3 tập trung vào việc xây dựng khung phân tích để giải quyết mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, trên cơ sở đó, xây dựng mô hình nghiên cứu, cách thức đo lường các biến số được đề xuất trong mô hình. Các vấn đề liên quan đến dữ liệu như cách thức chọn mẫu, quy mô mẫu… và phương pháp phân tích dữ liệu cũng được trình bày trong chương này.
Chương 4 sẽ trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu mà đề tài đạt được, trong đó trọng tâm là chỉ ra những yếu tố có tác động đến quyết định tiêm vắc xin phòng viêm gan B ở người trưởng thành sinh sống tại TP. Hồ Chí Minh và mức độ tác động của các yếu tố này. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được so sánh, đối chiếu với kết quả của các nghiên cứu tương tự đã được thực hiện trước đây, trên cơ sở đó, đề tài sẽ đưa ra những nhận định chi tiết về kết quả nghiên cứu trong trường hợp cụ thể này. 6 Chương 5 sẽ trình bày tóm tắt lại những vấn đề trọng tâm, kết quả chính mà nghiên cứu đã đạt được.
Dựa trên kết quả nghiên cứu này, đề tài sẽ đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm cải thiện tỷ lệ tiêm vắc xin phòng viêm gan B ở những người trưởng thành. Ngoài ra, chương này cũng sẽ trình bày những vấn đề còn hạn chế của nghiên cứu, từ đó đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung chương này sẽ trình bày về khái niệm bệnh viêm gan B, các đường lây truyền bệnh, phương pháp sàng lọc, phòng tránh và điều trị bệnh viêm gan B. Bên cạnh đó, Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991) và thuyết niềm tin sức khỏe (Health belief model) cũng được trình bày trong chương này, cùng với kết quả lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan chính là cơ sở cho đề tài tiếp cận, giải quyết vấn đề nghiên cứu đã đặt ra.
TỔNG QUAN VỀ VIÊM GAN B 2. Khái niệm Theo Tổ chức Y tế thế giới (2013), viêm gan B là một bệnh nhiễm trùng gan rất nghiêm trọng và có khả năng đe dọa tính mạng do vi rút viêm gan B gây ra. Đó là loại viêm gan siêu vi nghiêm trọng nhất và là một vấn đề lớn của y tế toàn cầu. Nhiễm viêm gan B là nguyên nhân hàng đầu của bệnh xơ gan và ung thư gan.
Nhiễm viêm gan B có thể dẫn đến nhiễm lâu dài mạn tính trong đó virus liên tục tồn tại trong máu và chất dịch khác của cơ thể người bị nhiễm. Tình trạng này được gọi là nhiễm virus viêm gan B mạn tính. Theo Trung tâm gan Á Châu - Đại học Stanford (2016), viêm gan B (còn gọi là viêm gan vi rút B hay viêm gan siêu vi B) là tình trạng viêm hoặc hoại tử tế bào gan cấp hoặc mạn tính, có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng như xơ gan hoặc ung thư gan. Các đường lây truyền Theo Trung tâm gan Á Châu - Đại học Stanford (2016), Vi rút viêm gan B tồn tại trong máu và dịch thể, có thể lây theo 3 đường: Từ mẹ sang con khi sinh, qua đường máu, và qua quan hệ tình dục không bảo vệ.
- Lây từ mẹ sang con: Viêm gan B có thể lây từ mẹ sang con trong lúc sinh. Đây là đường lây truyền phổ biến nhất tại Việt nam và là nguyên nhân gây viêm 8 gan B thường gặp nhất. Nhiều phụ nữ mang thai không biết mình bị viêm gan B do không có triệu chứng và không được xét nghiệm. - Lây qua đường máu: Viêm gan B có thể lây qua tiếp xúc trực tiếp với máu nhiễm vi rút.
Ví dụ: Tiếp xúc trực tiếp giữa các vết thương; dùng chung dao cạo hoặc bằng chải đánh răng đã có nhiễm máu; tái sử dụng bơm kim tiêm hoặc dụng cụ y tế; truyền máu không an toàn. - Lây qua quan hệ tình dục: Viêm gan B có thể lây qua quan hệ tình dục không dùng bao cao su. Mặc dù dùng bao cao su có thể giảm nguy cơ truyền viêm gan B, cách tốt nhất để phòng bệnh viêm gan B vẫn là tiêm phòng. Viêm gan B không lây qua ăn uống chung.
Hiện nay vẫn có một số hiểu nhầm về đường lây truyền viêm gan B. Nhiều người vẫn nghĩ rằng viêm gan B có thể lây qua đường ăn uống giống như viêm gan A. Thực tế, vi rút viêm gan B không lây truyền qua: Ăn uống chung, dùng chung cốc, chén, bát đũa; làm việc chung cùng cơ quan, văn phòng; ôm, hôn; ho hoặc hắt hơi; bắt tay; muỗi đốt; cho con bú sữa mẹ. Viêm gan B cấp và mạn tính Mắc viêm gan B cấp có thể dẫn tới 1 trong 3 tình huống: - Tiến triển thành viêm gan tối cấp và tử vong do suy gan.
Gây tổn thương nhiều tế bào gan nặng nề, dẫn tới suy gan cấp hoặc thậm chí tử vong. Rất may là điều này chỉ xảy ra ở tỷ lệ nhỏ (1%). - Phục hồi sau khi nhiễm trùng và tạo ra miễn dịch bảo vệ. Cơ thể loại bỏ vi rút viêm gan B sau vài tháng và (có triệu chứng hoặc không), tạo được miễn dịch bảo vệ suốt đời.
Hiện nay không có thuốc chữa khỏi viêm gan B cấp mà chỉ có thuốc điều trị hỗ trợ. - Tiến triển thành viêm gan B mạn. Cơ thể không loại bỏ vi rút dẫn tới mắc viêm gan mạn suốt đời. Hiện nay đã có thuốc kháng vi rút điều trị hiệu quả viêm gan B mạn.
Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn cần khám theo dõi và sàng lọc ung thư gan 9 định kỳ để phát hiện sớm tổn thương gan. Nếu không được điều trị và theo dõi đúng cách, khoảng ¼ người mắc viêm gan B mạn sẽ tử vong do xơ gan, ung thư gan hoặc suy gan. Xét nghiệm sàng lọc viêm gan B Đa số người mắc viêm gan B không có triệu chứng. Vì vậy, cần xét nghiệm sàng lọc những người có nguy cơ mắc để: • Chẩn đoán viêm gan B mạn để theo dõi và điều trị kịp thời • Kiểm tra xem đã có miễn dịch bảo vệ chưa để tiêm vắc xin dự phòng • Giảm thiểu việc tiêm phòng vắc xin không cần thiết.
Những người đã mắc viêm gan B mạn hoặc đã có miễn dịch bảo vệ (do đã tiêm phòng hoặc do mắc viêm gan B trước đây) không cần tiêm vắc xin. Xét nghiệm sàng lọc viêm gan B bằng các xét nghiệm sau đây: HBsAg (còn gọi là kháng nguyên bề mặt): Xét nghiệm HBsAg là cách duy nhất để chẩn đoán viêm gan B mạn. Nếu HbsAg (+) kéo trên 6 tháng nghĩa là bệnh nhân đã mắc viêm gan B mạn. Do phần lớn bệnh nhân viêm gan B tại Việt nam mắc vi rút từ lúc sinh hoặc khi còn nhỏ, xét nghiệm HbsAg (+) thường có nghĩa là đã mắc viêm gan B mạn.
Người có HbsAg (+) cần được tư vấn và khám định kỳ để giảm nguy cơ tiến triển thành bệnh gan mạn và ung thư gan. Anti-HBs: Xét nghiệm anti-HBs là để kiểm tra xem đã có miễn dịch bảo vệ hay chưa. Anti-HBs tạo ra sau tiêm phòng hoặc do trước đây đã mắc vi rút viêm gan B và tự hồi phục. Các xét nghiệm viêm gan B khác: Total anti-HBc: Là xét nghiệm để kiểm tra xem bệnh nhân đã từng mắc vi rút trước đây chưa.
Xét nghiệm này rất hữu ích trong việc sàng lọc khi truyền máu nhưng không phân biệt được người hiện đang mắc viêm gan B mạn với người đã hồi phục và có miễn dịch bảo vệ với viêm gan B. 10 IgM anti-HBc: Là xét nghiệm để xác định tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B. Chỉ làm xét nghiệm IgM anti-HBc nếu nghi ngờ bệnh nhân mới nhiễm vi rút viêm gan B gần đây (do kim đâm khi tiêm hoặc do quan hệ tình dục không bảo vệ với người mắc viêm gan B). Nếu mắc viêm gan B cấp, bệnh nhân có thể tiến triển thành mạn tính hoặc không.1: Cấu trúc Hepatitis B virus Nguồn: Trung tâm gan Á Châu - Đại học Stanford (2016) 2.
Tiêm vắc xin phòng viêm gan B Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, tiêm vắc xin viêm gan B là cách phòng bệnh hiệu quả nhất. Những đối tượng cần tiêm vắc xin phòng viêm gan B bao gồm: - Tất cả trẻ sơ sinh: Tiêm mũi đầu trong 24 giờ sau khi sinh và 3 mũi tiếp theo vào 2, 3 và 4 tháng tuổi. 11 - Người lớn và trẻ em chưa mắc bệnh và chưa được tiêm phòng: Tiêm 3 mũi vào các tháng 0, 1 và 6. - Những người có nguy cơ mắc viêm gan B cao khác cần được ưu tiên tiêm phòng bao gồm: Trẻ nhỏ chưa được tiêm phòng; cán bộ y tế; thành viên gia đình người mắc viêm gan B; người tiêm chích ma túy; nam có quan hệ tình dục đồng giới; người nhiễm HIV; người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục; người có nhiều bạn tình; bệnh nhân mắc bệnh thận giai đoạn cuối hoặc bệnh gan mạn tính không liên quan đến viêm gan B.
Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm Globulin miễn dịch kháng viêm gan B (HBIG): HBIG dùng để điều trị ngay sau phơi nhiễm với máu hoặc dịch của người mắc viêm gan B (trẻ sơ sinh mẹ có HBsAg +, nhân viên y tế phơi nhiễm với kim dính máu của người mắc viêm gan B, sau quan hệ tình dục với người mắc viêm gan B). Tiêm HBIG 7 ngày sau phơi nhiễm qua đường máu hoặc mẹ-con, và 14 ngày sau phơi nhiễm qua đường tình dục sẽ không hiệu quả. Các bước cần làm sau phơi nhiễm kim tiêm từ bệnh nhân viêm gan B: - Rửa ngay vết thương bằng nước và xà phòng và báo cáo chấn thương. - Xét nghiệm máu để kiểm tra anti-HBs, anti-HBc, HBsAg, và ALT.
- Nếu chưa tiêm phòng, không chắc chắn đã tiêm hay chưa, hoặc chưa có miễn dịch bảo vệ: tiêm một liều HBIG trong vòng 24 giờ đầu sau phơi nhiễm (200- 400 IU), đồng thời tiêm vắc xin phòng viêm gan B mũi đầu tiên tại một vị trí tiêm khác.