CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu 1. Khái niệm Theo từ điển Tiếng Việt, bạo lực được hiểu là sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ [9]. Khái niệm này có thể liên tưởng tới các hoạt động chính trị, nhưng trên thực tế bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong các quan hệ xã hội nói chung.
Các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, được chia thành nhiều dạng khác nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, với trẻ em… Theo Cơ quan Lao động Quốc tế (ILO): “Bạo lực là hành vi cố ý sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyền lực để tự hủy hoại mình, chống lại người khác hoặc một nhóm người, một tập thể cộng đồng làm họ bị tổn thương hoặc có nguy cơ bị tổn thương hoặc tử vong hoặc bị sang chấn tinh thần, ảnh hưởng đến sự phát triển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởng khác” [16]. Phân loại Theo Tổ chức Quản lý An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp (OSHA), bạo lực có thể được phân loại theo phạm vi bạo lực hoặc loại hành vi bạo lực [24]. Phạm vi bạo lực bao gồm: - Bạo lực tự thân: Được chia làm 2 hình thức chính là: Hành vi tự sát; Ngược đãi bản thân. - Bạo lực giữa các cá nhân: Bạo lực gia đình và bạo lực tình dục; Bạo lực cộng đồng.
- Bạo lực giữa các nhóm, tập thể: Bạo lực này chia làm 3 hình thức là bạo lực xã hội, bạo lực chính trị và bạo lực kinh tế; các loại hình bạo lực này thường có động cơ rõ ràng bởi số lượng lớn các cá nhân hoặc của một tổ chức nào đó. 5 Hành vi bạo lực bao gồm: - Bạo lực thể chất; - Bạo lực tình dục; - Bạo lực tinh thần; - Kỳ thị/phân biệt đối xử. Bạo lực tại nơi làm việc 1. Khái niệm Theo Wynne, Clarkin, Cox và Griffiths (1997), bạo lực tại nơi làm việc được xem là sự cố mà người ta bị lạm dụng, đe dọa hoặc tấn công trong các tình huống liên quan đến công việc của họ, liên quan đến một thách thức rõ ràng hoặc tiềm ẩn đối với sự an toàn, sức khỏe hoặc sức khỏe của họ.
Định nghĩa này không phân biệt giữa đồng nghiệp, khách hàng hoặc người lạ hoàn toàn là những người chịu trách nhiệm cho một hành động bạo lực [30]. Điều quan trọng là phải nhấn mạnh rằng bạo lực có thể thuộc về thể chất cũng như bản chất tâm lý. Sau này sẽ bao gồm các hiện tượng như bắt nạt và lừa đảo, cũng như quấy rối trên cơ sở giới tính, chủng tộc và tình dục. Cơ quan Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa bạo lực tại nơi làm việc là bất kỳ hành động, sự việc hoặc hành vi nào lệch khỏi quy tắc ứng xử phù hợp, trong đó một người bị tấn công, đe doạ, tổn hại hoặc tổn thương trong quá trình làm việc [15].
Einarsen, Hoel, Zapf và Cooper (2003) thì cho rằng, bạo lực tại nơi làm việc được định nghĩa là hành vi tiêu cực lặp đi lặp lại và có hệ thống trong một thời gian dài được đồng nghiệp hoặc cấp trên / quản lý hướng đến nhân viên trong tình huống nạn nhân cảm thấy khó khăn trong việc tự bảo vệ mình hoặc trốn thoát tình hình hoặc hậu quả của nó, và dẫn đến tổn hại tâm lý. Hơn nữa, bạo lực đã được coi là cả nguyên nhân và hậu quả của căng thẳng trong công việc [11]. Tổ chức Quản lý An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp (OSHA) định nghĩa tại nơi làm việc là bất kỳ hành động hoặc đe dọa nào về thể chất, quấy rối, bắt nạt hoặc hành vi gây rối khác xảy ra tại nơi làm việc. tại nơi làm việc bao gồm nhiều mức độ, từ những đe dọa và lạm dụng bằng lời nói đến những hành vi tấn công vật lý và 6 thậm chí giết người, nó có thể ảnh hưởng và liên quan đến người lao động, khách hàng, người đi cùng, và khách tham quan [24].
Như vậy, hầu hết các định nghĩa về bạo lực tại nơi làm việc đều đề cập đến cả hành vi bạo hành về thể chất lẫn tinh thần, có thể dao động từ mức độ thấp như sự thiếu tôn trọng, sự xúc phạm, đe doạ bằng lời nói đến mức độ cao hơn như bắt nạt, quấy rối tình dục, phân biệt đối xử, tấn công vật lý và giết người. Phân loại Dựa theo đối tượng gây bạo lực, tổ chức ILO chia bạo lực tại nơi làm việc thành 2 loại [15]: - Bạo lực nội bộ: xảy ra giữa những người lao động với nhau, kể cả người quản lý, giám sát. - Bạo lực từ bên ngoài: xảy ra giữa người lao động (kể cả người quản lý, giám sát) với bất kỳ người nào khác bên ngoài tổ chức có mặt tại nơi làm việc. Trong khi đó tổ chức OSHA lại chia bạo lực tại nơi làm việc thành 4 loại [24]: - Loại 1: Đối tượng thực hiện hành vi bạo lực không có mối quan hệ pháp lý nào với nơi làm việc và, thông thường, mục đích chính của hành vi bạo hành là lấy tiền mặt hoặc tài sản có giá trị hoặc thể hiện quyền lực (hay còn gọi là bạo hành tội phạm).
Ví dụ: cướp,… - Loại 2: Đối tượng thực hiện hành vi bạo lực có liên quan tới người sử dụng dịch vụ, người chịu ảnh hưởng bởi nơi làm việc. Ví dụ: sự đe doạ, tấn công của người dân đối với cảnh sát; của người bệnh/người nhà đối với NVYT… - Loại 3: Đối tượng thực hiện hành vi bạo lực là người lao động, có thể là đồng nghiệp, giám sát viên, người quản lý… Ví dụ: bắt nạt, quấy rối tình dục của cấp trên đối với cấp dưới. - Loại 4: Đối tượng thực hiện hành vi là những người có mối quan hệ cá nhân đối với người lao động (ví dụ, vợ/chồng, người thân…). Đề tài nghiên cứu sử dụng dạng phân loại thứ 2 với đối tượng thực hiện hành vi bạo lực là người sử dụng dịch vụ/ có liên quan tới người sử dụng dịch vụ, cụ thể đó là người bệnh và người nhà người bệnh.
Bạo lực tại nơi làm việc đối với nhân viên y tế Bạo lực tại nơi làm việc đối với NVYT (gọi tắt là bạo lực NVYT) là một hình thức bạo lực nơi làm việc mà đối tượng chịu tác động là NVYT. Theo Hướng dẫn phòng chống bạo lực nơi làm việc đối với NVYT và dịch vụ xã hội năm 2015 do Tổ chức OHSA – Hoa Kỳ xây dựng, nơi làm việc của NVYT và dịch vụ xã hội được chia thành 5 nhóm: (1). cơ sở điều trị/chăm sóc dài hạn (như viện dưỡng lão, viện tâm thần, nhà điều dưỡng…); (3). cơ sở điều trị/chăm sóc ngắn hạn (như phòng khám, trung tâm chăm sóc sức khoẻ tâm thần…); (4).
cơ sở chăm sóc dựa vào cộng đồng (nhà cộng đồng, nhà tập thế…) và (5) chăm sóc tại nhà [25]. Theo hướng dẫn của các tổ chức ILO/ICN/WHO/PSI thì bạo lực được chia thành Bạo lực thể chất (tấn công) và bạo lực tinh thần (trong đó gồm 5 loại: Lạm dụng lời nói, Bắt nạt, Quấy rối _gồm quấy rối tình dục và quấy rối chủng tộc và đe doạ) [17]: - Bạo lực thể chất: là sử dụng vũ lực với một người hoặc nhóm người khác, dẫn đến tổn hại về thể chất, tình dục hoặc tâm lý. Bao gồm: đánh đập, đá, tát, đâm, bắn súng, đẩy, cắn, véo. - Bạo lực tinh thần: Hành vi cố ý sử dụng quyền lực hoặc quyền hạn, bao gồm cả việc đe doạ sử dụng vũ lực với một người hoặc một nhóm người khác, bao gồm: xúc phạm bằng lời nói, bắt nạt, quấy rối và đe doạ: + Lạm dụng bằng lời nói: Hành vi làm nhục, hạ thấp hay nói cách khác là thiếu sự tôn trọng nhân phẩm và giá trị của một cá nhân.
+ Bắt nạt: Hành vi công kích (hung hăng) lặp lại nhiều lần thông qua những nỗ lực có chủ đích, độc ác, độc hại để làm nhục hoặc làm suy yếu một cá nhân hoặc một nhóm nhân viên. + Quấy rối: Bất kỳ hành vi cư xử nào vì lý do tuổi tác, tình trạng khuyết tật, giới tính, khuynh hướng tình dục, phân định giới tính, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị, công đoàn, quan điểm, niềm tin, nguồn gốc quốc gia hoặc xã hội, tài sản, tình trạng bẩm sinh hoặc các tình trạng 8 không mong muốn khác làm ảnh hưởng tới phẩm giá của người lao động tại nơi làm việc. + Quấy rối tình dục: Bất kỳ hành vi không được sự mong muốn/mong đợi/tiếp nhận nào liên quan đến tình dục xúc phạm đến người có liên quan và khiến người đó cảm thấy bị đe doạ, bị làm nhục hoặc hổ thẹn. + Quấy rối chủng tộc: Bất kỳ cách cư xử nào vì lý do chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo, …làm ảnh hưởng tới phẩm giá của người lao động tại nơi làm việc.
+ Đe dọa: Việc báo trước sẽ sử dụng vũ lực hoặc quyền lực làm cho đối tượng (người lao động) lo sợ sẽ bị tổn hại do các hậu quả tiêu cực có thể xảy ra. Các giải pháp về vấn đề liên quan đến bạo lực và căng thẳng tại nơi làm việc đã đạt được sự nổi bật lớn hơn trong vài năm qua, một phần là kết quả của một nỗ lực ngày càng tăng đối với các cơ quan quốc tế quan trọng như ILO để nâng cao hiểu biết của chúng ta về nguyên nhân chính và hậu quả. Do đó, các hướng dẫn được công bố gần đây về phòng chống bạo lực và quấy rối trong ngành y tế nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết các vấn đề tổ chức như thực hành công việc, thiết kế công việc và mức độ nhân viên, vì chúng có thể tác động đến mức độ căng thẳng và do đó, ở mức độ xâm lược và bạo lực [17]. Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài Bạo lực NVYT không chỉ có tác động tiêu cực đến sức khoẻ và tâm lý của NVYT mà còn ảnh hưởng đến động lực làm việc, làm ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc và đặt ra các nguy cơ về chăm sóc sức khoẻ, nó cũng dẫn đến tổn thất tài chính to lớn của ngành y tế.
Nghiên cứu về thực trạng bạo lực nhân viên y tế Các nghiên cứu, báo cáo trên thế giới đã sử dụng nhiều phương pháp và công cụ đo lường khác nhau để tìm hiểu về thực trạng bạo lực NVYT.