ĐẶT VẤN ĐỀ Máu tụ ngoài màng cứng hố sau hình thành giữa mặt trong xương sọ và mặt ngoài màng cứng, nằm ở dưới lều tiểu não, ít gặp, chẩn đoán khó khăn, nên đôi khi được chẩn đoán và điều trị muộn hơn so với máu tụ trên lều. Theo y văn thế giới, MTNMC hố sau chiếm từ 1,2 đến 12,9% trong tất cả MTNMC [31], [46], [68] và ở bệnh viện Chợ Rẫy là 9,6% [25], nhưng máu tụ ngoài màng cứng hố sau là loại máu tụ thường gặp nhất trong các loại máu tụ ở hố sau do chấn thương. MTNMC hố sau có thể đơn thuần hoặc phối hợp với các tổn thương khác trong sọ như: Máu tụ dưới màng cứng, máu tụ trong não, dập não, phù não, chẩy máu màng mềm v.v… Ở trên lều tiểu não, MTDMC gặp nhiều hơn MTNMC. Ngược lại, ở dưới lều tiểu não (hố sau) MTNMC gặp nhiều hơn máu tụ DMC.
Trong máu tụ NMC hố sau nguồn gốc chảy máu thường từ tĩnh mạch, xương sọ hơn là từ động mạch màng não vì ở hố sau tĩnh mạch màng cứng nhiều hơn động mạch màng cứng, và các tĩnh mạch này đổ vào các xoang tĩnh mạch như: Xoang thẳng, xoang ngang, và xoang sigma. MTNMC hố sau có những đặc điểm lâm sàng đặc biệt, khác với máu tụ NMC ở bán cầu đại não, rất dễ bỏ sót do diễn biến lâm sàng cấp tính và không có các triệu chứng lâm sàng đặc hiệu. MTNMC hố sau thường gây tăng áp lực nội sọ sớm. Thương tổn vùng này thường đẩy lệch não thất 4 hoặc tắc lỗ Magendie và Luschka dẫn đến giãn não thất sớm và dẫn đến tụt hạnh nhân tiểu não.
Thương tổn vùng này rõ nhất là đau đầu, thường đau đầu dữ dội ở vùng chẩm, nhất là ở trẻ em. Nhiều tác giả nhấn mạnh những dấu hiệu sưng nề phần mềm ở vùng chẩm do va đập trực tiếp khi chấn thương và đường vỡ xương vùng chẩm, đây là những dấu hiệu gợi ý để định hướng cho chẩn đoán 2 MTNMC hố sau. Dấu hiệu tiểu não xuất hiện rất ít và khó phát hiện nếu bệnh nhân trong tình trạng hôn mê. MTNMC hố sau nếu được phát hiện sớm, xử trí kịp thời thì kết quả tốt trên 80% [4], [9], [24], [27].
Tuy nhiên, không phải trung tâm y tế nào hiện nay cũng có chuyên khoa Phẫu thuật thần kinh, có phương tiện chẩn đoán như chụp cắt lớp vi tính, vì vậy việc chẩn đoán và định hướng gửi lên tuyến trên có chuyên khoa còn gặp nhiều khó khăn, thường đã muộn, tỷ lệ tử vong cao. Do đó, đề tài “Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật máu tụ ngoài màng cứng hố sau do chấn thương tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt - Đức” nhằm mục đích sau: 1. Mô tả các triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh của MTNMC hố sau. Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật MTNMC hố sau tại khoa Phẫu thuật thần kinh Bệnh viện Hữu Nghị Việt - Đức.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Năm 1901 Wharton là người đầu tiên thông báo1 bệnh nhân bị MTNMC hố sau được chẩn đoán sau khi làm giải phẫu thi thể ở ngày thứ tư sau tai nạn. Nhưng mãi tới năm 1941 Coleman và Thompson mới thông báo trường hợp đầu tiên được mổ MTNMC hố sau có kết quả, bệnh nhân phục hồi sau phẫu thuật. Sau này, nhiều tác giả đã ghi chép và có nhiều nhận xét tỉ mỉ hơn về MTNMC hố sau: Năm 1978 Bensson G và cộng sự phân tích 10 bệnh án của tác giả và 100 bệnh án thu thập trong y văn về MTNMC hố sau.
Năm 1993, Taiz-Nga L và cộng sự [67] đưa ra 89 cas MTNMC hố sau từ năn 1977-1989. Năm 1995, Prusty-GK và Mohanty A.A [62] phân tích 17 bệnh nhân, trong đó có 7 bệnh nhân là cấp tính, 6 bệnh nhân là bán cấp và 4 bệnh nhân là mạn tính.St và French [49] đã nghiên cứu 8 bệnh nhân trong đó có 6 bệnh nhân là cấp tính và 2 bệnh nhân là bán cấp đã được mổ MTNMC hố sau do chấn thương cho thấy kết quả hồi phục tốt 50%, khá 12,5%, kém 12,5%, tỷ lệ tử vong là 25%. Năm 1994, Vrancovic và cộng sự [65] đã nghiên cứu 11 bệnh nhân có MTNMC hố sau do chấn thương trong đó: Có 8 bệnh nhân mổ, 3 bệnh nhân điều trị bảo tồn, tỷ lệ hồi phục tốt 54,5%, khá 36,4%, tử vong 9,1%. Holzschuh và Schuknecht [65] đã đánh giá lâm sàng và đặc điểm chẩn đoán hình ảnh 20 bệnh nhân mổ MTNMC hố sau do chấn thương, trong đó có 18/20 bệnh nhân được chụp CLVT.
Các tác giả nhận xét tỷ lệ tử vong của các bệnh nhân cấp tính là 50%, mạn tính là 20%, và đều nhấn mạnh tầm quan trọng của chụp CLVT cho các bệnh nhân có dấu hiệu chấn thương vùng chẩm nhằm chẩn đoán sớm MTNMC hố sau trước khi có diễn biến lâm sàng xấu đi. 4 Theo y văn nước ngoài gần đây, chấn thương vùng hố sau hiếm gặp, chiếm dưới 3% các chấn thương đầu. MTNMC hố sau chiếm tỷ lệ 1,2-12,9% trong tất cả các MTNMC và ít được chú ý trong các chấn thương ở đầu. Trước kia chưa có chụp CLVT, phần lớn thông báo của các tác giả đều ở loại máu tụ bán cấp tính với các triệu chứng xuất hiện nhiều ngày sau chấn thương vào vùng chẩm.
Mất tri giác ngay sau chấn thương, vỡ xương chẩm là các dấu hiệu thường có ở các bệnh nhân MTNMC hố sau được nhiều tác giả nói tới.Từ khi có máy chụp CLVT thì việc chẩn đoán và điều trị MTNMC hố sau được đề cập nhiều hơn. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Năm 1984, Vũ Tự Huỳnh nhận xét 2 BN có máu tụ NMC hố sau [7]. Năm 1998 Trần Quang Vinh nói về lâm sàng, chẩn đoán, điều trị MTNMC hố sau do chấn thương qua phân tích hồi cứu 112 trường hợp [24]. Năm 1998, Nguyễn Văn Sơn đã nêu MTNMC hố sau do CTSN kín qua thu thập, phân tích số liệu trong 5 năm từ 1/1994 đến 11/1998 gồm 45 BN, góp phần vào việc chẩn đoán và điều trị sớm đối với loại máu tụ này [9].
Năm 2004, Lê Toàn Khắc Di và Võ Tấn Sơn đã nghiên cứu 3.407 trường hợp MTNMC, trong đó MTNMC hố sau chiếm 3,8%. Các tác giả cũng nhận xét các dấu hiệu tổn thương phần mềm ở vùng chẩm, tăng áp lực nội sọ cấp tính, đường vỡ xương chẩm có giá trị gợi ý chẩn đoán và chụp CLVT giữ vai trò quan trọng trong chẩn đoán sớm [4]. Năm 2006, Phạm Văn Thụy nghiên cứu 56 trường hợp máu tụ NMC hố sau trong đó có 47 trường hợp có chỉ định phẫu thuật. Năm 2010, Hà Kim Trung và cộng sự nghiên cứu chẩn đoán xử trí MTNMC hố sau do chấn thương trong 2 năm 2007-2008 [27].
Giải phẫu vùng hố sau Hố sau là một ngăn xương – xơ chật hẹp, không giãn nở, ở trên thông với các hố bán cầu đại não qua khe lều tiểu não, ở dưới thông với ống sống qua lỗ chẩm. Hố sau chứa trục của não bao gồm: Thân não, tiểu não và các khoang não thất. Trục thân não cách thành của hố sau bởi các khoang dưới nhện, về cấu tạo đây là một khoang được tạo nên bởi tầng sau của xương sọ ở các thành bên và gồm: - Mảnh vuông hay mảnh trượt ở phía trước tạo nên rãnh nền( xương bướm và xương chẩm ). - Các xương đá có ống tai trong.
Ở phần dưới hố, sát với xương chẩm là các lỗ tĩnh mạch cảnh (lỗ rách sau). - Xương chẩm ở phía sau. - Xương chẩm thủng ở đáy tạo thành lỗ chẩm. - Lều tiểu não ở phần mái, phần trước tạo nên khe lều tiểu não.
Da và cơ vùng đầu * Da đầu: Dưới da đầu là lớp cân Galéa, có nhiều mạch máu nuôi dưỡng vùng da đầu, mặt, cổ, khi tổn thương thì gây chẩy máu nhiều động - tĩnh mạch chẩm. * Các cơ vùng gáy: Được sáp xếp thành 4 lớp, từ nông đến sâu: - Lớp nông: Cơ thang là cơ hình thang rất rộng và dẹt phủ hết cả vùng gáy, đầu trên bám vào xương chẩm, mỏm gai các đốt sống cổ và lưng. Các thớ cơ tụm lại để bám tận vào bờ trên sống vai, xương đòn và mỏm cùng vai. - Lớp thứ hai gồm: Cơ gối đầu cổ và cơ nâng bả vai.
Cơ gối đầu cổ đi từ mỏm gai các đốt sống cổ cuối và các đốt sống lưng trên cùng tới xương chẩm, xương chũm, mỏm ngang đốt trục và đốt đội. Cơ nâng bả vai hay cơ góc ở ngoài cơ trên bám ở mỏm ngang của 5 đốt cổ trên và bám tận ở dưới vào góc trên xương bả vai. 6 - Lớp thứ ba: Gồm cơ bám gai đầu hay cơ rối lớn và cơ dài đầu hay cơ rối bé, đi từ các mỏm ngang và mỏm gai các đốt sống cổ cuối cùng và các đốt sống lưng trên cùng tới xương chẩm và xương chũm. Cơ bám gai cổ hay cơ ngang cổ, hình cung nối các mỏm ngang của 5 đốt sống cổ với mỏn ngang của 5 đốt sống lưng trên cùng.
- Lớp sâu: Sát cột sống có cơ thẳng to sau, cơ thẳng bé sau, cơ chéo đầu dưới, cơ chéo đầu trên, các cơ này ngắn đi từ đốt trục và đốt đội đến xương chẩm. Cơ liên gai, cơ ngang gai, các cơ này nằm giữa các mỏm tương ứng của cột sống cổ. Các cơ ở vùng hố sau giới hạn lên một tam giác gáy trên: Giới hạn trong bởi cơ thẳng to sau, ở ngoài bởi cơ chéo đầu trên và ở dưới bởi cơ chéo đầu dưới. Trong tam giác có cung sau đốt đội, động mạch đốt sống, dây thần kinh dưới chẩm.
Động mạch đốt sống đi qua lỗ ngang của sáu đốt sống cổ trên tới đốt đội vòng quanh ở phía sau khối bên của đốt đội để qua lỗ chẩm vào, là điểm giải phẫu quan trọng khi Phẫu thuật máu tụ NMC hố sau vì nguy cơ có thể làm tổn thương động mạch đốt sống. Xương chẩm Nằm ở phần sau hộp sọ, tham gia tạo thành nền sọ và vòm sọ, tiếp khớp với xương đỉnh ở trên, xương đá và mỏm chũm ở bên, thân xương bướm ở trước. Xương chẩm có 2 mặt: Mặt trong sọ và mặt ngoài sọ. - Mặt ngoài sọ: + Phần nền: Tạo nên vòm mũi họng, có củ hầu và hố hầu (hố thuyền).
+ Phần bên: Ở 2 bên lỗ chẩm có 2 lồi cầu, xương chẩm hình khối bầu dục tiếp khớp với đốt sống cổ I (đốt đội), ở phía trước và sau lồi cầu có lỗ lồi. Cầu trước cho dây thần kinh hạ thiệt đi qua và lỗ lồi cầu sau cho một tĩnh mạch đi qua.