ĐẶT VẤN ĐỀ Sự cố y khoa là một nguy cơ, rủi ro, sai sót có thể gây ra tổn thương không mong muốn, tác động đến sức khỏe li n quan đến quá trình chăm sóc y tế trong cơ sở khám chữa bệnh, trái ngược với di n biến của bệnh lý [5]. Sự cố y khoa có thể dẫn tới tử vong hay chấn thương vật lý hoặc tâm lý nghiêm trọng đối với người bệnh [9] Ước tính hàng năm của Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization - WHO) cho thấy trên thế giới sự cố y khoa do phẫu thuật là khoảng 230 triệu trường hợp. Các nghiên cứu ghi nhận tử vong trực tiếp liên quan tới phẫu thuật từ 0,4-0,8% và biến chứng do phẫu thuật từ 3-16% [24], [23], [12]. Sự cố y khoa liên quan tới nhi m khuẩn bệnh viện từ 5-15% người bệnh nội trú và tỉ lệ nhi m khuẩn bệnh viện tại các khoa điều trị tích cực từ 9-37% [36].
Ở nước ta, sự cố y khoa xảy ra gần đây gây sự quan tâm theo dõi của toàn xã hội, áp lực mà các bệnh viện phải gánh chịu như uy tín, tiền bạc, con người là rất lớn gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình khám, chữa bệnh [3]. Các yếu tố gây ra sự cố y khoa chủ yếu do quá trình quản lý, hành nghề, chuy n môn, môi trường làm việc và ở người nhà người bệnh và chính người bệnh gây ra [4]. Trong thực tế, khi có sự cố y khoa không mong muốn xảy ra không chỉ có người bệnh, gia đình người bệnh trở thành nạn nhân mà các cán bộ y tế liên quan trực tiếp tới sự cố y khoa cũng là nạn nhân và cũng cần được hỗ trợ về tâm lý [4]. Nhưng nếu các sự cố y khoa không được ghi nhận và không được tìm hiểu nguyên nhân thì những sự cố này sẽ có thể bị tái di n.
Do vậy, các sự cố y khoa cần được công khai, báo cáo và phân tích một cách đầy đủ và khoa học để từ đó hạn chế tối đa, đồng thời ngăn chặn những sự cố không mong muốn, đảm bảo an toàn cho công tác khám chữa bệnh [4]. Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản nhằm hạn chế sự cố y khoa như các quy chế chuyên môn, quy chế bệnh viện, hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, chương trình và tài liệu đào tạo an toàn người bệnh [4], trong đó có quy trình báo cáo sự cố y khoa, với mục đích xác định nguyên nhân cần coi trọng, các yếu tố liên quan tới các cá nhân và các yếu tố hệ thống nhằm giảm thiểu tối đa sự cố y khoa. Tuy nhiên, quy trình báo cáo sự cố y khoa và đảm bảo an toàn cho người bệnh vẫn còn rất mới và vẫn đang trong quá trình hoàn thiện [4]. 2 Bệnh viện Phụ sản Hà Nội là bệnh viện chuy n khoa hạng I của thành phố trong lĩnh vực Sản Phụ Khoa và Kế hoạch hóa gia đình Mỗi ngày có hơn 1 500 lượt khám và 100 ca sinh nở Báo cáo bệnh viện đến hết năm 2017 có đến 100 sự cố y khoa được báo cáo tự nguyện [1] nhưng con số sự cố thực tế sẽ còn nhiều hơn nhưng vì nhiều lý do và nguy n nhân đã không được báo cáo Nhằm nâng cao chất lượng bệnh viện, đảm bảo sự an toàn cho người bệnh, cung cấp th m tư liệu cho công tác quản lý bệnh viện trong cả nước nói chung và bệnh viện Phụ Sản Hà Nội nói ri ng và để tìm hiểu thực trạng hiện nay cũng như các nguyên nhân, yếu tố li n quan đến báo cáo sự cố y khoa đồng thời chủ động phòng chống sai sót không đáng có trong y khoa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng báo cáo sự cố y khoa và một số yếu tố ảnh hƣởng tại các khoa lâm sàng tại bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2017” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế trong các khoa lâm sàng tại bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2017. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế trong các khoa lâm sàng tại bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2017. Khái niệm, phân loại và hậu quả 1. Khái niệm Theo WHO, sự cố y khoa không mong muốn là tổn thương làm cho người bệnh mất khả năng tạm thời hoặc vĩnh vi n, kéo dài ngày nằm viện hoặc chết.
Nguyên nhân do công tác quản lý khám chữa bệnh hơn là do biến chứng bệnh của người bệnh. Sự cố y khoa có thể phòng ngừa và không thể phòng ngừa, đã xảy ra hoặc suýt xảy ra. Theo Bộ sức khỏe và dịch vụ con người của M thì sự cố y khoa là sự cố không mong muốn gây hại cho người bệnh do hậu quả của chăm sóc y tế hoặc trong y tế Để đo lường sự cố y khoa các nhà nghiên cứu y học của M dựa vào 3 nhóm tiêu chí: thứ nhất là các sự cố thuộc danh sách các sự cố nghiêm trọng, thứ hai là các tình trạng/vấn đề sức khỏe người bệnh mắc phải trong bệnh viện và thứ ba sự cố dẫn đến các thiệt hại nghiêm trọng cho người bệnh (kéo dài ngày điều trị, để lại tổn thương vĩnh vi n, phải can thiệp cấp cứu và chết người) [5]. Trong dự thảo thông tư về báo cáo sự cố y khoa của Bộ y tế, sự cố y khoa được định nghĩa là: một nguy cơ, rủi ro, sai sót có thể gây ra tổn thương không mong muốn, tác động đến sức khỏe li n quan đến quá trình chăm sóc y tế trong cơ sở khám chữa bệnh, trái ngược với di n biến của bệnh lý.
Các sự cố có thể phòng ngừa hoặc không thể phòng ngừa, đã xảy ra hoặc suýt xảy ra [5]. Báo cáo sự cố y khoa là việc thu thập các thông tin từ bất kỳ sự việc nào đó có nguy cơ gây hại hoặc đã gây hại cho người bệnh. Hệ thống báo cáo sự cố đóng vai trò cơ bản trong việc rút kinh nghiệm từ thực ti n các sai sót, thất bại được ghi nhận lại trong các báo cáo sự cố, tăng cường an toàn người bệnh, ngăn chặn tình trạng lặp lại cũng như giảm thiểu được nguy cơ xảy ra các sự cố tương tự trong tương lai [4]. Phân loại sự cố y khoa Tùy theo mục đích mà có các cách phân loại sự cố y khoa khác nhau.
- Phân loại sự cố y khoa theo đặc điểm chuyên môn [4] Hiệp hội an toàn người bệnh Thế giới phân loại sự cố ý khoa theo tính chất chuyên môn thành 6 nhóm: + Sự cố y khoa do nhầm t n người bệnh. + Sự cố y khoa do thông tin bàn giao của cán bộ y tế không đầy đủ. 5 + Sự cố y khoa do sai sót trong sử dụng thuốc, có thể xảy ra trong tất cả các công đoạn từ k đơn, cấp phát thuốc, pha chế thuốc, sử dụng thuốc và theo dõi sau dùng thuốc. + Sự cố y khoa do nhầm lẫn liên quan tới phẫu thuật (nhầm vị trí, nhầm phương pháp, nhầm người bệnh).
+ Sự cố y khoa do nhi m khuẩn bệnh viện. + Sự cố y khoa do người bệnh bị té ngã trong khi đang điều trị tại các cơ sở y tế. - Phân loại sự cố y khoa theo mức độ ảnh hưởng Theo kinh nghiệm của một số nước, sự cố y khoa được phân loại theo các cách khác nhau, tùy thuộc vào mục đích sử dụng. Bao gồm phân loại theo mức độ nguy hại của người bệnh tổ chức, theo tính chất nghiêm trọng của sự cố làm cơ sở để đo lường và đánh giá mức độ nguy hại cho người bệnh, tổ chức [21],[26].
Ảnh hưởng đến người bệnh Chưa xảy ra + Đã xảy ra, không gây hại + Đã xảy ra có gây hại + Đã xảy ra, tổn thương nặng hay tử vong Ảnh hưởng đến tổ chức + Tổn hại tài sản + Tăng nguồn lực phục vụ cho người bệnh + Quan tâm của truyền thông + Khiếu nại của người bệnh + Tổn hại danh tiếng + Pháp luật vào cuộc (NCC MERP Index, Medication Errors Council Revises and Expended Index for categorizing Errors, June 12,2001 [21][26]) 1.