Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm, phân loại bạo lực vàbạo lực trong bệnh viện 1. Khái niệm và phân loại bạo lực 1. Khái niệm bạo lực Theo từ điển Tiếng Việt, bạo lực được hiểu là việc sử dụng sức mạnh nhằm trấn áp hoặc lật đổ (8).
Theo cách hiểu này, bạo lực liên quan nhiều tới lĩnh vực chính trị và nó được coi là phương thức cai trị trong các mối quan hệ xã hội. Trong xã hội hiện nay tồn tại rất nhiều các mối quan hệ, tùy vào góc nhìn khác nhau mà bạo lực có thể được phân chia thành các loại hình như: Bạo lực gia đình, bạo lực trẻ em, bạo lực giới. Theo Tổ chức lao động Thế giới (ILO): Bạo lực làhành vi cố ý sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyền lực để tự hủy hoại mình, chống lại người khác hoặc một nhóm người, một tập thể cộng đồng làm họ bị tổn thương hoặc có nguy cơ bị tổn thương hoặc tử vong hoặc bị sang chấn tâm thần, ảnh hưởng đến sự phát triển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởng khác (1) 1. Phân loại bạo lực Theo tổ chức quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp của Mỹ (Occupational Safety and Health Administration – OSHA) Bạo lực được phân loại theo phạm vi bạo lực hoặc loại hành vi bạo lực (9).
* Phân loại theo phạm vi bạo lực bao gồm: Bạo lực tự thân: Được chia làm 2 thể chí nh: Hành vi tự sát Ngược đãi bản thân Bạo lực giữa các cánhân: Bạo lực gia đình và bạo lực tì nh dục Bạo lực cộng đồng 5 Bạo lực giữa các nhóm, tập thể: Bạo lực này chia làm 3 thể làBạo lực xã hội, bạo lực chính trị, bạo lực kinh tế. Các loại hình bạo lực này thường có động cơ rõràng bởi số lượng lớn các cánhân hoặc của một tổ chức nào đó. Chí nh vìhành động bạo lực này gây ra bởi nhiều cánhân nên hì nh thức vàdiễn biến vôcùng phức tạp. * Phân loại bạo lực theo hành vi bạo lực chia ra làm 4 loại: - Bạo lực thể chất - Bạo lực tình dục - Bạo lực tinh thần - Kỳ thị/phân biệt đối xử/hắt hủi/xa lánh/thờ ơ 1.
Bạo lực nơi làm việc 1. Khái niệm bạo lực nơi làm việc: Theo Tổ chức An toàn và sức khỏe nghề nghiệp Mỹ (OSHA), bạo lực nơi làm việc là bất kỳ hành động đe dọa nào về thể chất, quấy rối, bắt nạt hoặc các hành vi đe dọa khác xảy ra tại nơi làm việc gây ảnh hưởng tới người lao động, khách hàng, khách đi cùng và người tham thăm quan (9). Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO), bạo lực nơi làm việc lànhững rủi ro mànhân viên làm việc bị lạm dụng, đe dọa hoặc bị tấn công trong những hoàn cảnh liên quan đến nghề nghiệp của họ, nó xuất phát hoặc tác động đến công việc, bao gồm một nguy cơ rõràng hay tiềm tàng tới sự an toàn của họ, sự hạnh phúc hoặc sức khỏe (1). - Tấn công/hành hung: Làhành vi cóchủ đích gây hại cho người khác về mặt thể chất (1).
- Bắt nạt: Hành vi tấn công lặp lại, qua thời gian bằng thùoán, hung ác, hoặc cóác tâm cố gắng làm nhục hoặc hủy hoại một người hoặc một nhóm người (1). - Lạm dụng: Hành vi làm nhục, hạ thấp hoặc các biểu lộ khác một sự thiếu tôn trọng với phẩm giávàgiátrị một cánhân (1). 6 - Bạo lực tinh thần: Còn được gọi làbạo lực tì nh cảm/tâm lý. Đây làloại bạo lực kháphổ biến nhưng nó khó nhận dạng được so với bạo lực thể chất.
Nạn nhân phải chịu các kiểu hành hạ như chửi mắng, hạ nhục với những lời lẽ thôthiển, nặng nề xâm phạm đến nhân phẩm và danh dự. Không những thế, bạo lực tinh thần nhiều khi còn tồn tại dưới nhiều dạng như đe dọa tinh thần, khủng bố tâm lý…(1). - Quấy rối: Mọi hành xử dựa trên tuổi tác, khuyết tật, nhiễm HIV, hoàn cảnh gia đình, giới tính, tì nh trạng tình dục, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo, chí nh trị, công đoàn hoặc quan điểm khác, lựa chọn, niềm tin, quốc tịch hoặc nguồn gốc dân tộc hoặc xãhội, thuộc nhóm thiểu số, nghèo đói, sinh đẻ hoặc các tì nh trạng khác không mong muốn hoặc không hợp tác, ảnh hưởng đến nhân phẩm của người đàn ông vàphụ nữ tại nơi làm việc (1). - Xúc phạm chủng tộc: Mọi cư xử dựa trên chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, nguồn gốc dân tộc, tôn giáo, dân tộc thiểu số, hoặc tình trạng khác không mong muốn hoặc không đáp ứng vànó ảnh hưởng đến nhân phẩm của người đàn ông vàphụ nữ tại nơi làm việc (1).
- Đe dọa: Sử dụng sức mạnh thể chất hoặc thể lực (thậm chícả sức mạnh tâm lý) dẫn đến nỗi sợ hãi về thể chất, nguy hại đến tì nh dục, tâm lýhoặc những hậu quả khác đến những cánhân hoặc nhóm người (1). - Nạn nhân: Bất cứ người nào làmục đích của hành động bạo lực hoặc hành vi bạo lực đã được môtả như trên (1). - Thủ phạm/người gây ra: Bất cứ người nào vi phạm các hành vi bạo lực hoặc dàn xếp hành vi bạo lực được môtả như trên (1). Bạo lực trong bệnh viện Bạo lực trong bệnh viện (BLBV) là bạo lực xảy ra tại nơi làm việc là bệnh viện.
Nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề bạo lực trong bệnh viện, hầu hết nghiên cứu đề cập tới các hành vi bạo lực thể chất, các mối đe dọa bằng lời nói, lạm dụng lời nói đe dọa. có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đối với NVYT. Có rất nhiều hình thức bạo lực xảy ra trong bệnh viện gây ra bởi nhiều đối tượng khác nhau. Tuy nhiên, bạo 7 lực thể chất và bạo lực tinh thần do người bệnh và người nhà là hình thức phổ biến mà NVYT phải đối mặt.
Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, BLBV lànhững bạo lực đối với NVYT do bệnh nhân/NNBN gây ra tại bệnh viện đa khoa Đông Anh. Các hình thức bạo lực trong nghiên cứu đề cập bao gồm: Bạo lực thể chất: Việc sử dụng vũ lực chống lại một người hoặc nhóm người, gây ra các tổn hại về thể chất, tì nh dục hoặc tâm thần. Nóbao gồm đánh, đá, tát, đạp, xô đẩy, cắn vàvéo (1). Bạo lực tinh thần: Việc cố tì nh sử dụng cóchủ đích về quyền lực, bao gồm cả đe dọa sức lực, chống lại một người hoặc một nhóm, có thể gây lên tác hại về thể chất, tâm thần, tâm hồn, luôn thường đạo lý, đạo đức hoặc sự phát triển xãhội.
Bao gồm lạm dụng ngôn từ, bắt nạt, lạm dụng, quấy rối vàđe dọa (1). Thực trạng bạo lực trong bệnh viện đối với nhân viên y tế Bạo lực NVYT không những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tinh thần mà còn ảnh hưởng đến hiệu suất công việc của NVYT từ đó làm giảm chất lượng dịch vụ trong chăm sóc và điều trị người bệnh. Nhiều tác giả trên Thế giới thực hiện nghiên cứu về bạo lực vàhọ đã sử dụng bộ công cụ với cách thức thu thập số liệu khác nhau để đánh giá thực trạng của bạo lực. Năm 2002, Khung hướng dẫn của Hiệp hội các tổ chức ILO-INC-WHO-PSI ra đời nhằm đánh giá và giải quyết vấn đề bạo lực đối với NVYT.
Cho đến nay, đã có nhiều quốc gia áp dụng trong việc đánh giá thực trạng đối với tất cả các loại hình bạo lực. Tại Việt Nam, phần lớn các vụ bạo lực được ghi nhận theo phương pháp thống kê các trường hợp được báo cáo. Những nghiên cứu gần đây đã áp dụng bộ công cụ căn cứ nội dung trong khung hướng dẫn và đưa ra kết quả khác biệt nhất định về bạo lực NVYT cũng như hậu quả mànómang lại.1 Thực trạng bạo lực thể chất đối với nhân viên y tế. Tại Newzealand, nghiên cứu được thực hiện trên 227 đối tượng là NVYT.
Kết quả cho thấy, 38% NVYT từng bị bạo lực thể chất trong vòng 12 tháng trước. Nghiên cứu chỉ ra rằng điều đưỡng là đối tượng bị bạo lực nhiều hơn so với bác sĩ (10). 8 Nghiên cứu về bạo lực tại tỉnh Chiết Giang -Trung Quốc thực hiện trên 45 cơ sở y tế với sự tham gia của 4. Kết quả chỉ ra rằng, có224 NVYT (4,6%) từng bị bạo lực thể chất trong vòng một năm qua.
Nghiên cứu cho thấy cần phải có chính sách phù hợp nhằm khuyến khích, hỗ trợ NVYT trong việc báo cáo khi tì nh trạng bạo lực xảy ra (11). Kết quả nghiên cứu của Josenthan L.J và cộng sự về tác động và sự phổ biến của bạo lực từ bệnh nhân và NNBN đối với NVYT cho thấy: 13,5% NVYT bị bạo lực thể chất trong vòng một năm qua. Trong số những người từng bị bạo lực thể chất, 60,2% bị chấn thương, 9,4% bỏ việc và 30,1% có suy nghĩ về việc từ bỏ công việc (12). Năm 2016, nghiên cứu tại phía tây bắc Ethiopia nhằm đánh giá mức độ của bạo lực tại nơi làm việc tại các cơ sở y tế.
Kết quả đưa ra: 22% đối tượng từng bị bạo lực thể chất và34,4% thủ phạm của các vụ bạo lực đối với NVYT là do bệnh nhân và NNBN gây ra (13). Tại Iran, kết quả nghiên cứu về bạo lực thể chất (năm 2011) cho biết: 23,5% NVYT là nạn nhân của các vụ bạo lực thể chất trong vòng một năm qua, điều dưỡng là đối tượng bị bạo lực thể chất chiếm tỷ lệ tương đối cao (78%) và người nhà gia đình bệnh nhân là thủ phạm chính của bạo lực (56%) (14). Tại Ả Rập, một nghiên cứu cắt ngang về bạo lực với sự tham gia của 270 NVYT tại 12 cơ sở y tế tham gia. Kết quả đưa ra, 123 đối tượng nghiên cứu (45,6%) từng bị một số loại bạo lực trong một năm qua.
Trong đó những người bị bạo lực, 6,5% NVYT từng bị bạo lực thể chất và 71,5% thủ phạm các vụ bạo lực là do bệnh nhân gây ra. Nghiên cứu cho thấy, bạo lực tại nơi làm việc vẫn là một vấn đề khá nghiêm trọng và bạo lực xảy ra với tần suất ngày càng cao, hơn nữa việc báo cáo bạo lực không đầy đủ. Do đó, cần phải có nhiều chương trình, chính sách quản lý, hệ thống báo cáo bạo lực và các hoạt động đào tạo cho NVYT nhằm giảm thiểu bạo lực tại nơi làm việc (15). Theo báo cáo của Cục Quản lý khám chữa bệnh – Bộ y tế Việt Nam, những vụ điển hình về mất an ninh, trật tự tại các cơ sở khám chữa bệnh gần đây cho thấy đối 9 tượng bị tấn công chủ yếu là bác sĩ (70%) và điều dưỡng (15%).