chương 1, sinh viên đã giới thiệu về đề tài nghiên cứu thông qua việc trình bày lý do vì sao việc nghiên cứu quyết định sử dụng bao bì thân thiện với môi trường của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết. Bên cạnh đó, sinh viên cũng đã chỉ ra mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, kết hợp với phương pháp nghiên cứu mà sinh viên sử dụng để tiếp cận đề tài. Sinh viên cũng đã trình bày về tổng quan tình hình các nghiên cứu trong nước và thế giới, cũng như đề cập đến những đóng góp mới, và ý nghĩa mang tính thực tiễn của đề tài nghiên cứu. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
Một số khái niệm chính 2. Khái niệm về quyết định sử dụng Quy trình quyết định sử dụng của người tiêu dùng là quy trình ra quyết định của người tiêu dùng liên quan đến giao dịch thị trường tiềm năng trước, trong và sau khi mua sản phẩm hoặc dịch vụ. Nói một cách tổng quát hơn thì ra quyết định là quá trình nhận thức để lựa chọn một quá trình hành động trong số nhiều lựa chọn thay thế. Một số ví dụ phổ biến có thể kể đến như là mua sắm, quyết định lựa chọn, sử dụng một món đồ nào đó.
Về cơ bản, ra quyết định được cho là một cấu trúc tâm lý. Điều này có nghĩa là mặc dù con người không bao giờ có thể “nhìn thấy” một quyết định, con người có thể suy ra từ hành vi quan sát được rằng một quyết định đã được thực hiện. Nói cách khác, điều này có thể được kết luận giống như một ảnh hưởng tâm lý, gọi là “đưa ra quyết định”. Cụ thể hơn, dựa trên các hành động, phân tích và quan sát được về một sản phẩm, con người sẽ tự giả định rằng họ là người đã cam kết thực hiện hành động sử dụng sản phẩm đó.
Simon (1947) đã nhận định rằng, một phân tích về một sản phẩm bất kì nào đó của con người được hoàn chỉnh được thực hiện, một quyết định của họ đưa ra sẽ vô cùng phức tạp. Ông cũng nói rằng khả năng xử lý thông tin của mọi người rất hạn chế, và thường thì con người bị ảnh hưởng bởi những suy xét cảm tính và phi lý trí. Trong nghiên cứu của Nicosia (1966), tác giả đã xác định được 3 loại mô hình của việc ra quyết định sử dụng của người tiêu dùng, lần lượt là mô hình đơn biến (univariate model): chỉ cho phép một yếu tố quyết định hành vi trong kiểu quan hệ kích thích – phản ứng; mô hình nhiều biến thể (multi-variate model): trong đó nhiều biến độc lập được giả định để xác định hành vi của người tiêu dùng; và cuối cùng là mô hình hệ phương trình (system of equations model): trong đó nhiều quan hệ chức năng đơn biến hoặc đa biến tương tác trong một hệ phương tình phức tạp. Tác giả đã kết luận rằng chỉ có loại mô hình thứ ba này mới có khả năng thể hiện sự phức tạp trong của các quy trình quyết định sử dụng của người tiêu dùng.
Theo Myer (1962), quá trình ra quyết định của một người phụ thuộc đáng kể vào phong cách nhận thức của họ. Myers đã phát triển một bộ bốn chiều chỉ số, gọi là: suy nghĩ và cảm nhận; hướng ngoại và hướng nội; phán đoán và nhận thức; và cảm nhận và trực 11 giác. Ông tuyên bố rằng phong cách ra quyết định của một người phần lớn dựa vào cách họ ghi điểm trên bốn khía cạnh này. Ví dụ: một người nào đó đạt điểm ở gần đầu của các chiều tư duy, hướng ngoại, cảm nhận và phán đoán sẽ có xu hướng có phong cách ra quyết định logic, phân tích, khách quan, phê phán và thực nghiệm.
Khái niệm về bao bì thân thiện với môi trường Bao bì thân thiện với môi trường – hay còn gọi là bao bì có thể tái sử dụng nhiều lần là một loại túi hoặc bao bì đóng vai trò là giải pháp thay thế cho túi sử dụng một lần, ví dụ như túi ni lông. Bao bì thân thiện thường là túi tote được làm từ vải như canvas, sợi tự nhiên như đay, sợi tổng hợp dệt, hoặc nhựa dày bền hơn túi nhựa dùng một lần, cho phép sử dụng nhiều lần. Ngoài ra, còn có những nguồn thông tin xác thực cho rằng bao bì thân thiện với môi trường, hay túi mua sắm có thể tái sử dụng là một loại túi vận chuyển, được bày bán trong các siêu thị và cửa hàng may mặc. Trong một nghiên cứu năm 2011 về các chuỗi bán lẻ của Hoa Kỳ (được tài trợ bởi một nhóm ủng hộ doanh nghiệp phản đối lệnh cấm sử dụng túi nhựa), 23% túi tái sử dụng được phát hiện có mức độ chì cao hơn tiêu chuẩn 100 ppm được coi là an toàn cho bao bì sản phẩm, và không có nguy cơ làm ô nhiễm thực phẩm.
Về cơ bản, túi tái sử dụng đòi hỏi nhiều năng lượng hơn để sản xuất so với túi mua sắm bằng nhựa thông thường. Một chiếc túi có thể tái sử dụng yêu cầu lượng năng lượng tương đương với khoảng 28 túi mua sắm bằng nhựa truyền thống hoặc 8 túi giấy. Theo Sterling, giám đốc nghiên cứu tại Natural Capitalism Solutions, “Nếu được sử dụng một lần mỗi tuần, bốn hoặc năm túi tái sử dụng sẽ thay thế 520 túi nhựa mỗi năm”. Một nghiên cứu do Cơ quan Môi trường Vương quốc Anh ủy quyền vào năm 2005 cho thấy rằng bao bì thân thiện trung bình được sử dụng 51 lần trước khi bị vứt bỏ.
Trong một số trường hợp khác, túi tái sử dụng có thể được sử dụng hơn 100 lần trước khi bị bỏ đi và giúp bảo vệ cho môi trường hơn so với túi nhựa sử dụng một lần. Ở trong bài viết này, sinh viên sẽ lựa chọn khái niệm bao bì thân thiện với môi trường là loại bao bì hoặc loại túi được làm từ vải như sợi canvas, sợi tự nhiên như đay, sợi tổng hợp dệt, hoặc nhựa, và các túi này sẽ cho phép sử dụng nhiều lần trong cuộc sống hằng ngày của người tiêu dùng. Một vài lợi ích của bao bì thân thiện đối với môi trường Thứ nhất, bao bì thân thiện có lợi ích đem lại an toàn thực phẩm. Theo Tiến sĩ Summerbell, giám đốc nghiên cứu của Sporometrics, hầu hết những người mua sắm túi sử dụng một lần đựng thực phẩm sống trong thời gian dài có thể dẫn đến ngộ độc thực phẩm.
Do bao bì nhựa tiếp xúc nhiều lần với thịt sống và rau củ, sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh do thực phẩm. Một nghiên cứu năm 2008 về túi, được tài trợ bởi Hội đồng Công nghiệp Nhựa và Môi trường của Canada, cho thấy mức độ an toàn của thực phẩm đựng trong bao bì thân thiện so với túi ni lông cao hơn 200% so với mức được coi là an toàn trong nước uống. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn khuyến khích người tiêu dùng nên tách biệt giữa thực phẩm sống và các thực phẩm khác khi đựng trong túi vải để tránh bị nấm mốc, gây ảnh hưởng tới sức khỏe. Thứ hai, sử dụng bao bì thân thiện với môi trường sẽ nhận được sự khuyến khích từ chính phủ và cộng đồng.
Một vài quốc gia đã khuyến khích hoặc yêu cầu sử dụng túi mua sắm có thể tái sử dụng thông qua quy định cấm sử dụng túi nhựa, quy định tái chế, thuế hoặc phí. Luật khuyến khích sử dụng túi ni lông đã được thông qua ở các khu vực của Hồng Kông, Ireland, Nam Phi, Hoa Kỳ, Canada và Đài Loan. Vào năm 2012, Quận San Luis Obispo tại bang California đã cấm túi nhựa dùng một lần và bắt đầu yêu cầu người mua hàng phải tự mang theo túi của họ hoặc trả phí 10% mỗi túi cho túi giấy. Năm 2009, Đặc khu Columbia bắt đầu yêu cầu phí 5 ¢ cho mỗi túi dùng một lần.
Hay vào năm 2012, Portland, Oregon đã bắt đầu các chương trình bắt buộc để loại bỏ túi thanh toán dùng một lần, và khuyến khích người tiêu dùng sử dụng bao bì thân thiện với môi trường. Thú ba, do chính phủ và các siêu thị khuyến khích sử dụng túi mua sắm tái sử dụng, túi mua sắm tái sử dụng, hay bao bì thân thiện với môi trường nhờ đó đã trở thành một trong những xu hướng thời trang mới. Ngành công nghiệp may mặc cũng góp phần vào việc phổ biến túi mua sắm thời trang có thể tái sử dụng thay vì túi nhựa dùng một lần. Năm 2007, tác phẩm “I'm Not A Plastic Bag” trị giá 15 đô la của nhà thiết kế người Anh Anya Hindmarch (một chiếc túi vải cotton không tẩy trắng) đã bán hết veo trong một ngày và thu về 800 đô la trên Internet.
Bên cạnh đó, thương hiệu Envirosax cũng đã bắt đầu sản xuất túi mua sắm có thể tái sử dụng, và đã mở rộng dòng sản phẩm của họ với nhiều lựa chọn về màu sắc và hoa văn hơn. Một số học thuyết nghiên cứu về đề tài 2. Học thuyết hành vi hợp lý – TRA Được phát triển bởi Martin Fishbein và Icek Ajzen vào năm 1967, học thuyết về hành vi hợp lý (TRA hoặc ToRA) bắt nguồn từ nghiên cứu trước đó về tâm lý xã hội, mô hình thuyết phục và lý thuyết thái độ, nhằm giải thích mối quan hệ giữa thái độ và hành vi trong hành động của con người. Học thuyết này chủ yếu được sử dụng để dự đoán cách cá nhân sẽ hành xử dựa trên thái độ và ý định hành vi đã có từ trước của họ, và chỉ ra quyết định của một cá nhân để tham gia vào một hành vi cụ thể dựa trên kết quả mà cá nhân mong đợi sẽ đến khi thực hiện hành vi đó.
Học thuyết của Fishbein cho thấy mối quan hệ giữa thái độ và hành vi (mối quan hệ A- B). Tuy nhiên, các nhà phê bình cho rằng học thuyết hành vi hợp lý không được chứng minh là những chỉ số tốt về hành vi của con người. Học thuyết TRA sau đó đã được hai nhà lý thuyết sửa đổi và mở rộng trong những thập kỷ tiếp theo để khắc phục bất kỳ sự khác biệt nào trong mối quan hệ A-B với lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) và cách tiếp cận hành động hợp lý (RAA). Lý thuyết cũng được sử dụng trong diễn ngôn giao tiếp như một lý thuyết về việc thấu hiểu hành vi của con người.