Đặt vấn đề Ngành công nghiệp hàng tiêu dùng nhanh thường được phân loại thành bốn lĩnh vực như sau: (i) Đồ gia dụng; (ii) Đồ tiêu dùng cá nhân; (iii) Đồ ăn và thức uống và (iv) Đồ dùng chăm sóc sức khỏe cơ bản (Ramanuj Majumdar, 2004). Với tần suất mua hàng tiêu dùng ngày càng tăng như hiện nay, theo báo cáo Quý 4/2018 của Nielsen, khu vực Châu Á-Thái Bình Dương tiếp tục tự hào về mức GDP cao nhất thế giới, lạc quan nhất thế giới. Trên nhiều thị trường, thu nhập trung bình đã tăng lên, thường là hai chữ số và trong báo cáo của Nielsen, 70% NTD ở châu Á-Thái Bình Dương cho biết họ cảm thấy tốt hơn so với 5 năm trước. Tuy nhiên, mặt trái của điều này là thêm gánh nặng môi trường ngày càng tăng như rác thải bao bì hàng tiêu dùng, góp phần vào toàn cầu nóng lên, cạn kiệt nguyên liệu, axit hóa và năng lượng tiêu thụ (Bovea, Serrano, Bruscas, & Gallardo, 2006).
Với nhóm hàng thực phẩm và đồ uống, bao bì đóng gói được thiết kế sao cho nó tồn tại lâu hơn SP bên trong (James G. Grandison, 2012), nhưng nó sẽ trở nên dư thừa sau khi sử dụng SP. Do đó, rác thải bao bì thực phẩm và đồ uống đã nhận sự chú ý lớn từ các nhà hoạch định chính sách, NTD cũng như ngành công nghiệp bao bì. Theo một kết quả khảo sát từ Nielsen Việt Nam về NTD được công bố tại Hội thảo “Chiến lược thương hiệu gắn với phát triển xanh” do Cục Xúc tiến Thương mại – Bộ Công Thương phối hợp với Viện nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh tổ chức sáng ngày 19/4 tại Hà Nội, 80% trong số họ chấp nhận chi trả nhiều hơn để mua các SP có nguyên liệu đảm bảo TTMT, có thương hiệu “xanh” và “sạch”.
Đây cũng chính là động lực mạnh mẽ để NTD Việt Nam hướng đến những SP có BB TTMT. Tuy nhiên với kiến thức nhất định về tác động môi trường, trong các quyết định mua (QĐM) của NTD, họ có có thể dựa vào niềm tin chủ quan của họ (Helena Lindh, 2016). Như vậy, các yếu tố nào và mức độ quan trọng của chúng tác động như thế nào đến QĐM sản phẩm F&B có BB TTMT? Đó là lý do hình thành đề tài nghiên cứu: 123doc 2 “Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm thực phẩm và đồ uống có bao bì thân thiện môi trường”. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định nhân tố liên quan đến nhận thức, hành vi về bao bì của NTD tác động đến quyết định mua F&B có BB TTMT.
- Ước lượng mức độ tác động các nhân tố đến quyết định mua F&B có BB TTMT. - Đề xuất giải pháp cho nhà sản xuất F&B có định hướng giảm tác động môi trường của bao bì. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Quyết định mua F&B có BB TTMT của NTD. Đối tượng khảo sát là NTD Việt Nam sử dụng sản phẩm F&B có BB TTMT.
Phương pháp nghiên cứu Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Mô hình và các thang đo được kiểm định bởi phân tích Cronbach’s Alpha, phân tích EFA để kiểm tra giá trị hội tụ, giá trị phân biệt, độ tin cậy và phương sai trích. Bảng câu hỏi được thiết kế theo thang đo Likert 5 điểm. Dữ liệu được thu thập với sự trợ giúp của một bảng câu hỏi có cấu trúc.
Tất cả các phát biểu được đo theo thang đánh giá năm điểm, trong đó (1) thể hiện ‘rất không đồng ý’ hay ‘rất không quan trọng’ và (5) đại diện cho ‘rất đồng ý’ hay ‘rất quan trọng’. Dữ liệu được xử lí trên phần mềm SPSS 20. Ý nghĩa của nghiên cứu Xác định nhân tố (nhận thức và hành vi) có tác động đến QĐM vì môi trường của NTD. Đồng thời với mức độ tác động của chúng đến quyết định của NTD sẽ có ý nghĩa đối với các nhà sản xuất thực phẩm và đồ uống trong việc chú trọng đến việc phát triển sản phẩm có bao bì thân thiện môi trường.
Ngoài việc phát triển doanh thu của doanh nghiệp thì việc đóng góp cho việc giảm áp lực rác thải bao bì F&B cho môi trường. 123doc 3 Chương 2. Lý thuyết về hành vi 2. Lý thuyết về hành động lý luận/ hành động hợp lý (TRA) Lý thuyết hành vi hợp lý được phát triển lần đầu vào năm 1967 bởi Fishbein, sau đó đã được sửa đổi và mở rộng bởi Ajzen và Fishbein (1975).
Theo lý thuyết này, các cá nhân có cơ sở và động lực trong quá trình ra quyết định của họ và đưa ra một sự lựa chọn hợp lý giữa các giải pháp, công cụ tốt nhất để phán đoán hành vi là ý định và hành vi được xác định bởi ý định thực hiện hành vi (BI) của một người. Theo Ajzen và Fishbein (1975), ý định hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi thái độ đối với hành vi và tiêu chuẩn chủ quan hành vi.1: Mô hình Lý thuyết hành động lý luận (TRA) Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975 Trong mô hình này, thái độ đối với hành vi được định nghĩa là tổng hợp của niềm tin dễ tiếp cận hoặc nổi bật về các kết quả có khả năng của việc thực hiện hành vi mục tiêu, trong khi các tiêu chuẩn chủ quan là được định nghĩa là áp lực xã hội nhận thức để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi mục tiêu và ý định hành vi được định nghĩa là khả năng nhận thức của việc thực hiện hành vi mục tiêu. Lý thuyết về hành vi dự kiến/ hành vi dự định/ hành vi hoạch định (TPB) Lý thuyết về hành vi dự kiến đã cập nhật Lý thuyết về hành động lý luận để bao gồm một thành phần của kiểm soát hành vi nhận thức, trong đó chỉ định khả năng nhận thức của một người để ban hành hành vi mục tiêu.2: Mô hình Lý thuyết hành vi dự kiến (TPB) Nguồn: (Ajzen, 1991) Lý thuyết về hành vi dự kiến đề xuất rằng chính các yếu tố ý định hành vi của một cá nhân và nhận thức kiểm soát hành vi quyết định đến hành vi thực tế (xem Hình 2. Như vậy, theo lý thuyết về hành vi dự kiến, ý định được xem là thành phần động lực của mô hình.
Ý định hành vi được xác định bởi thái độ đối với hành vi (ví dụ: việc tham gia vào hành vi được đánh giá là tích cực hoặc tiêu cực), các chuẩn mực chủ quan xung quanh hành vi (ví dụ: niềm tin về việc người khác có nghĩ hay không người ta nên tham gia vào hành vi) và nhận thức kiểm soát hành vi (ví dụ: niềm tin liên quan đến việc thực hiện hành vi có thể dễ dàng hay khó khăn như thế nào). Trong bối cảnh này, nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh cả hai yếu tố bên ngoài (ví dụ: có sẵn thời gian hoặc tiền bạc, xã hội hỗ trợ) cũng như các yếu tố bên trong (ví dụ: khả năng, thông tin kỹ năng). Nói cách khác, nhận thức kiểm soát hành vi thấp tồn tại trong các tình 123doc 5 huống trong đó hiệu suất của hành vi thực tế phụ thuộc dựa trên một số yếu tố khác, có thể có hoặc không nằm trong tầm kiểm soát của một cá nhân. Nhận thức kiểm soát hành vi càng cao thì sức mạnh dự đoán của ý định hành vi đối với hành vi thực tế càng cao.
Cách tiếp cận hành động hợp lý (RAA) Trong những năm gần đây, Lý thuyết về hành động lý luận và Lý thuyết về hành vi dự kiến được tích hợp và hoàn thiện bởi phương pháp tiếp cận hành động hợp lý (Ajzen & Albarracín, 2007; Fishbein & Ajzen, 2010). Cách tiếp cận hành động hợp lý bao gồm tất cả các thành phần được đề xuất bởi các mô hình trước đó (ví dụ: thái độ đối với hành vi, các chuẩn mực chủ quan, kiểm soát hành vi và ý định), đồng thời bao gồm các yếu tố bổ sung như kiểm soát thực tế , được định nghĩa là các kỹ năng, khả năng và các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến khả năng của một người để thực hiện một hành vi mục tiêu. Như vậy, Lý thuyết về hành động lý luận và Lý thuyết về Hành vi dự kiến sẽ được gọi chung là cách tiếp cận hành động hợp lý RAA.3: Sơ đồ trình bày mô hình cách tiếp cận hành động hợp lý RAA Nguồn: Fishbein, M. (2010) 123doc 6 Con người chủ yếu dự đoán về ý định và hành động theo sau một cách hợp lý thông qua niềm tin, thái độ đối với hành vi, chuẩn mực và kiểm soát.
Tuy nhiên, cách tiếp cận này không giải quyết nguồn gốc của những niềm tin. Rõ ràng, vô số biến số có thể ảnh hưởng đến niềm tin của con người: tuổi tác, giới tính, dân tộc, tình trạng kinh tế xã hội, giáo dục, quốc tịch, liên kết tôn giáo, tính cách, tâm trạng, cảm xúc, thái độ và giá trị chung, trí thông minh, thành viên nhóm, kinh nghiệm trong quá khứ, tiếp xúc với thông tin, hỗ trợ xã hội và kỹ năng đối phó. Các mũi tên chấm trong Hình 2.1 chỉ ra rằng, mặc dù một yếu tố nền tảng nhất định trên thực tế có thể ảnh hưởng đến niềm tin hành vi, chuẩn mực hoặc kiểm soát, tuy nhiên, không có mối liên hệ cần thiết giữa các yếu tố nền tảng và những niềm tin. Cho dù một niềm tin nhất định có hoặc không bị ảnh hưởng bởi một yếu tố nền tảng cụ thể là một câu hỏi đã được thực nghiệm.
Trong số lượng lớn các yếu tố nền tảng có khả năng liên quan, thật khó để biết những yếu tố nào cần được xem xét mà không có lý thuyết để hướng dẫn lựa chọn trong lĩnh vực hành vi quan tâm. Trên thực tế, chúng ta đã thấy trước đó rằng nghiên cứu trong các lĩnh vực hành vi khác nhau đã tập trung chủ yếu vào những gì chúng ta sẽ gọi là các yếu tố nền tảng: quan điểm chung về tính cách và tính cách cũng như các đặc điểm nhân khẩu học. Những phát hiện thu được trong nghiên cứu này có thể đóng vai trò là kim chỉ nam cho các loại yếu tố nền tảng có liên quan để hiểu nguồn gốc của niềm tin hành vi, chuẩn mực và kiểm soát liên quan đến một hành vi nhất định. Các lý thuyết liên quan QĐM hàng 2.
Quy trình ra quyết định (Philip Kotler, Gary Armstrong) Hình 2.4: Quy trình ra quyết định của người mua Nguồn: Philip Kotler và Gary Armstrong, 2011, trang 152 – 156 123doc 7 Giai đoạn nhận biết vấn đề/ nhận biết nhu cầu: Quá trình mua bắt đầu với sự ghi nhận nhu cầu của người mua.